https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/issue/feed Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 2026-10-30T10:18:57+07:00 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.) journal@hcmue.edu.vn Open Journal Systems <p><strong>TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HCMUE J. SCI.)</strong></p><p><strong> </strong></p><p>v <strong>Thông tin chung</strong></p><p><strong>Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.)</strong> là một Tạp chí mở, được phản biện kín hai chiều và xuất bản định kì (01 kì/ tháng).</p><p>Mục đích của <strong>HCMUE J. Sci.</strong> là góp phần vào sự phát triển và phổ biến kiến thức đa ngành về khoa học, giáo dục và các lĩnh vực khác để tăng cường đối thoại giữa các học giả, các nhà nghiên cứu và các học viên. Tạp chí rất mong nhận được các bản thảo phản ánh các kết quả nghiên cứu mới và có ý nghĩa khoa học cao. Tất cả các bản thảo của bài báo gửi đến Tạp chí phải là kết quả nghiên cứu gốc, cả về mặt thực nghiệm hay lí thuyết, chưa từng được công bố. Các bản thảo gửi đến phải tuân thủ các quy định của Tạp chí và không được đồng thời đến các tạp chí khác. Bản thảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên sẽ được thẩm định bởi các chuyên gia.</p><p>v <strong>Giới thiệu về tạp chí</strong></p><p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> là một Tạp chí đa ngành được tài trợ bởi Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi mong muốn mang đến cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên, sinh viên và độc giả những thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực khoa học cũng như tạo cho họ những điều kiện thuận lợi nhất để trao đổi học thuật. Tuân thủ các chính sách truy cập mở, các tài liệu được xuất bản có thể được sao chép và phổ biến mà không cần xin phép nhưng phải đưa ra trích dẫn đầy đủ, chính xác về nguồn gốc tài liệu. <strong>HCMUE J. Sci.</strong> công bố các kết quả nghiên cứu khoa học gốc bằng một trong bốn ngôn ngữ: tiếng Việt/ tiếng Anh/ tiếng Pháp hay tiếng Trung Quốc.</p><p>v <strong>Tuyên bố về đạo đức xuất bản</strong><strong></strong></p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> cam kết duy trì các tài liệu nghiên cứu gốc với chất lượng cao nhất. Tất cả các bản thảo được chấp nhận để xuất bản sẽ phải chịu sự kiểm duyệt nghiêm ngặt. Bất kì bản thảo nào bị nghi ngờ là đạo văn, giả mạo và tác giả không chính xác sẽ không được xuất bản. https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6052 The Development of Taiwan’s Regional Literary Histories Since the Late Twentieth Century and the Perspective of Glocalization 2026-09-25T09:58:02+07:00 Huang Wenchu hcram58@mail.nptu.edu.tw The development of Taiwanese literature can be traced from classical literature during the Qing period, through the coexistence of traditional and modern literary forms under Japanese colonial rule, and the emergence of discourses concerning the localization of Taiwanese literature. After the turbulence of the postwar period and the literary oscillations that continued until the lifting of martial law, Taiwanese literature gradually found its bearings and entered, by the 1990s, an era characterized by “diversity, convergence, and polyphony.” Entering the twenty-first century, the development of regional literatures that emerged alongside the growth of local consciousness began to take root with Wenhsun magazine’s six “Regional Literary Conferences in Taiwan” held in 1993 in Hualien and Taitung, Yunlin–Chiayi–Tainan, Taichung–Changhua–Nantou, Taoyuan–Hsinchu–Miaoli, and Taipei–Keelung–Yilan, followed by the publication of conference volumes. Subsequently, regional literary histories were published for eleven countries and cities, including The History of Literary Development in Taichung County (1995), The History of Literary Development in Changhua County (1997), The Literary History of Taichung (2015), and The Literary History of Pingtung (2023). Nevertheless, not every region has received a comprehensive historical investigation and literary-historical reconstruction. This uneven development reveals both the trajectories and problems inherent in the formation of Taiwan’s regional literary histories. This article therefore examines the development of Taiwan’s regional literary histories since the late twentieth century, focusing on their characteristics of locality, multiethnicity, multilingualism, popular and vernacular dimensions, and literary landscapes. It further adopts “glocalization” as a theoretical perspective to reconsider the relationship between the local and the global not as a binary opposition but as a mutually constitutive cultural relationship. Accordingly, twenty-first-century regional literary histories in Taiwan should begin with sustained engagement with local communities while developing comparative perspectives across regions, ethnic groups, islands, and overseas Sinophone literatures. Only through this approach can regional literary history move beyond preserving local culture and become an important methodology for reconstructing the history of Taiwanese literature, while also initiating dialogue with overseas Sinophone literature, maritime cultures, and Southern knowledge systems. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6047 SẢN SINH TỪ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT: THƠ CỦA CÔNG NHÂN DI CƯ TRUNG QUỐC (2001–2020) 2026-09-16T03:38:06+07:00 Liang Jing liangjing@haust.edu.cn Bài viết này xem xét cách thức thơ của công nhân di cư Trung Quốc đã cất lên tiếng nói cho cuộc công nghiệp hóa lần thứ hai của Trung Quốc. Vừa là chủ thể sản xuất, vừa là sản phẩm của sự chuyển biến này, thơ của công nhân di cư thể hiện một phổ hình tượng công nghiệp hóa gồm bốn tầng bậc: cảnh quan vật chất, thân thể thương tổn, phản ứng tinh thần và ý thức được tái kiến tạo. Bài viết phác họa ba dạng thức chủ thể – chủ nghĩa hiện sinh nuốt chửng, chủ nghĩa hiện sinh mềm mỏng và chủ nghĩa hiện sinh bất khuất – thực thi năng lực chủ thể thực tiễn, song khước từ các tự sự anh hùng hóa và các tự sự tha hóa. Đối chiếu với văn học công–nông–binh của cuộc công nghiệp hóa lần thứ nhất, những điểm tương đồng và dị biệt hiện lên: cả hai thời kỳ đều sản sinh văn học công nghiệp từ chính những chủ thể lao động, song cái “Chúng ta” tập thể anh hùng nhường chỗ cho những tiếng nói cá nhân phân mảnh, mà thơ của họ, khác với sáng tác của giới trí thức, bám sát hiện thực Trung Quốc từ tầng đáy xã hội. Bài viết đọc thơ ấy như một chứng ngôn nảy sinh từ chính những mâu thuẫn thúc đẩy công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, nơi máy móc chạm vào da thịt, thể chế chạm vào con người, làm nảy sinh cả chính lao động ấy lẫn thơ ca của nó. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6062 HIGUCHI ICHIYO TRONG QUÁ TRÌNH CÁCH TÂN VĂN HỌC CẬN ĐẠI NHẬT BẢN VÀ VẤN ĐỀ DẠY HỌC VĂN HỌC NHẬT BẢN TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 2026-09-28T03:41:54+07:00 TS Trần Minh Hường tranminhhuong2020@gmail.com TS Nguyễn Văn Thương Võ Thị Phúc Hồng TÓM TẮT Sử dụng bút hiệu Ichiyo (Nhất Diệp: một chiếc lá), Higuchi Ichiyo (1872 - 1896) đã vượt qua sự hữu hạn của một cuộc đời ngắn ngủi (24 tuổi) với nhiều chông gai, thăng trầm để trở thành một biểu tượng tinh thần của Nhật Bản (hình ảnh bà được in trên một tờ tiền Nhật). Với 21 tập tiểu thuyết ngắn và 4.000 bài thơ tanka, sáng tác của Higuchi Ichiyo được hậu thế đánh giá là đã tạo nên bước chuyển quan trọng từ văn học trung đại sang cận, hiện đại trong giai đoạn “gió Âu, mưa Á” cuối XIX – đầu XX ở Nhật Bản. Bằng cách tiếp cận văn hoá học và thi pháp văn học, tham luận sẽ hướng tới việc phân tích những đóng góp quan trọng của Higuchi Ichiyo với tư cách là nhà văn tiên phong trong các bước chuyển từ phạm trù văn hoá trung đại sang cận, hiện đại của Nhật Bản nói riêng, Đông Á nói chung. Từ đó, tham luận sẽ đề xuất một số hàm ý cho việc giảng dạy văn học Nhật Bản trong nhà trường Việt Nam từ cách tiếp cận văn hoá học và tiếp cận liên ngành với mục đích giúp mở rộng nhận thức cho học sinh về tiến trình hiện đại hoá văn hoá và văn học Đông Á, so sánh với tiến trình hiện đại hoá văn hoá và văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, tạo cơ hội kết nối khu vực thông qua giảng dạy văn học. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6042 DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG “LỄ TẨY TRẦN THÁNG TƯ” CỦA INRASARA: NGHI LỄ, KÝ ỨC VÀ BẢN SẮC 2026-09-21T07:23:08+07:00 TS Hoàng Thị Thùy Dương duonghtt@hcmue.edu.vn Tập thơ “Lễ tẩy trần tháng Tư” của Inrasara, xuất bản lần đầu năm 2002, là một tác phẩm tiêu biểu, được trao Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2005. Bài viết tiếp cận “Lễ tẩy trần tháng Tư” từ góc nhìn văn hóa, tập trung khảo sát bốn phương diện: (1) dấu ấn văn hóa được biểu hiện qua nghi lễ, (2) dấu ấn văn hóa được biểu hiện qua ký ức, (3) dấu ấn văn hóa được biểu hiện qua bản sắc cộng đồng và (4) nghệ thuật biểu đạt các dấu ấn văn hóa. Tập thơ phản ánh đời sống tín ngưỡng và ý thức cộng đồng của người Chăm ở Ninh Thuận, Việt Nam, đồng thời kiến tạo một không gian đối thoại giữa truyền thống và hiện đại. Bằng việc đưa các yếu tố văn hóa Chăm vào hình thức biểu đạt của thơ ca đương đại, Inrasara tạo nên cho tập thơ một tiếng nói riêng, bắt nguồn từ những trải nghiệm văn hóa địa phương. Đồng thời, các bài thơ cũng đặt ra những vấn đề rộng hơn về di sản và bản sắc văn hóa. Vận dụng các lý thuyết về huyền thoại, nghiên cứu văn hóa và thi pháp học, bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản để khảo sát cách bản sắc văn hóa Chăm được thể hiện trong tập thơ. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6048 TỪ REPERTOIRE ĐẾN ĐỘ LỆCH QUY CHIẾU: VẬN DỤNG LÍ THUYẾT TIẾP NHẬN CỦA WOLFGANG ISER TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC ĐÔNG Á ĐẦU THẾ KỈ XXI 2026-09-29T11:10:41+07:00 Nguyễn Phước Bảo Khôi khoinpb@hcmue.edu.vn Văn học Đông Á đầu thế kỉ XXI thường đưa những yếu tố văn hóa quen thuộc như gia đình, cộng đồng, kí ức, đạo hiếu hay lao động vào những quan hệ mới của đời sống hiện đại. Với học sinh trung học phổ thông Việt Nam, sự gần gũi này có thể hỗ trợ việc đọc, nhưng cũng có thể dẫn đến những cách hiểu hình thành quá sớm khi cái quen thuộc bị xem như mang nghĩa ổn định. Bài viết dùng phân tích lí luận kết hợp với minh họa sư phạm để xem xét khái niệm repertoire của Wolfgang Iser, tập trung vào cách văn bản lựa chọn và tái tổ chức cái quen thuộc. Từ quan hệ giữa vốn quy ước của văn bản và vốn văn hóa mà học sinh huy động, nghiên cứu đề xuất độ lệch quy chiếu như một khái niệm thao tác sư phạm: khoảng chênh xuất hiện khi cách hiểu ban đầu không còn giải thích đầy đủ các quan hệ và khả năng tạo nghĩa của yếu tố quen thuộc trong cấu trúc văn bản. Nghiên cứu xây dựng một tiến trình dạy học năm bước để học sinh kiểm chứng và điều chỉnh diễn giải. Khung được thiết kế nhằm đặt việc hình thành, kiểm chứng và tái cấu trúc cách hiểu bằng bằng chứng văn bản vào trung tâm, thay cho việc sử dụng bối cảnh văn hóa như một lời giải có sẵn. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6060 CHỢ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ ĐẦU THẾ KỈ XXI: TIẾP CẬN TỪ PHÊ BÌNH CẢNH QUAN VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN NGÀNH 2026-09-11T09:27:54+07:00 TS Bùi Trần Quỳnh Ngọc ngocbtq@hcmue.edu.vn ThS Nguyễn Bùi Thiện Nhân thiennhannguyenbui@gmail.com PGS,TS Bùi Thanh Truyền truyenbt@hmue.edu.vn This paper applies Landscape Criticism and an interdisciplinary socio-cultural approach to decode the "market" imagery in short stories by contemporary female writers of Southern Vietnam (Nguyen Ngoc Tu, Nguyen Thi Diep Mai, Vo Dieu Thanh). The study demonstrates that the market is not merely a static geographical setting but a complex social and psychological construct. Analyzing these selected short stories reveals how the market space transforms from a specific riverine ecosystem into a place that preserves cultural memories and heals psychological traumas, while simultaneously exposing the harshness of the market economy and the tragedy of human alienation. The findings affirm the dominant power of landscape over characters' psychology and the authors' contributions to defining regional literary identity. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6067 KHI THẾ GIỚI CẤT TIẾNG: LẮNG NGHE HỒI ỨNG TRONG THƠ SIJO THIỀN CỦA MUSAN CHO OH-HYUN 2026-10-16T10:52:40+07:00 TS Nguyễn Thị Hà An annth@hcmue.edu.vn Bài viết khảo sát vai trò của âm thanh và sự lắng nghe trong thơ sijo Thiền của Musan Cho Oh-hyun, qua đó chuyển trọng tâm từ ý nghĩa Phật giáo của sự nghe sang những biến đổi trong mối quan hệ giữa người nghe và thế giới do trải nghiệm thính giác tạo nên. Trên cơ sở khảo sát 108 bài thơ trong tuyển tập bản dịch tiếng Anh For Nirvana: 108 Zen Sijo Poems của Heinz Insu Fenkl và đọc đối chiếu một số bài thơ tiêu biểu với nguyên bản trong tuyển tập tiếng Hàn năm 2012 của Musan, nghiên cứu đặt tư tưởng Phật giáo về sự nghe trong đối thoại với hiện tượng học thính giác. Bài viết đề xuất khái niệm lắng nghe hồi ứng (responsive listening) để chỉ một cấu trúc thi pháp trong đó âm thanh gọi sự chú ý, làm cho các ranh giới không gian, thân thể, tri giác hay quan hệ không còn hoàn toàn khép kín, và có thể làm thay đổi vị thế của người nghe. Sự thay đổi này có thể diễn ra trên các phương diện không gian, thân thể, tri giác, diễn giải hoặc đạo đức, nhưng không phải lúc nào cũng xuất hiện hoặc đạt đến sự hoàn tất. Một số bài thơ trì hoãn khả năng tự nghe chính mình, làm mờ ranh giới giữa sự rời đi của nguồn phát âm thanh và sự hiện diện của âm thanh vẫn tiếp diễn trong tri giác, hoặc bộc lộ chính những giới hạn của sự nghe. Qua đó, bài viết cho rằng thi pháp âm thanh của Musan không trình hiện sự nghe như một sự tiếp nhận thụ động hay một con đường tất yếu dẫn đến chứng ngộ, mà như một phương thức thiết lập quan hệ với thế giới. Âm thanh làm thay đổi vị thế của người nghe đối với những gì được nghe, đồng thời làm hiển lộ giới hạn của chính khả năng lắng nghe. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6050 GIVING VOICE TO THE SILENT: A MARGINAL NARRATIVE APPROACH TO THE RESTRUCTURING OF YAOGUAI IN CONTEMPORARY CHINESE ANIMATION THROUGH NOBODY 2026-09-15T03:33:49+07:00 Tiến sĩ Phan Thu Vân vanpth@hcmue.edu.vn Dương Vĩnh Hưng hung.yongxing@gmail.com Amid transformations in East Asian literature and the arts in the early 21st-century, the reinterpretation of traditional cultural materials has become an important means through which contemporary works engage with the past and address the concerns of modern life. Focusing on Nobody(浪浪山小妖怪, 2025), directed by Yu Shui (於水), this paper examines how the film reconstructs the traditional yaoguai figure through a marginal narrative approach. By shifting the narrative focalization from Tang Sanzang and his disciples to four nameless minor demons, the film transforms marginal figures from objects of the gaze into subjects capable of self-expression and choice. It further humanizes the yaoguai by incorporating them into everyday life and weakening the binary opposition between “human” and “yaoguai” while transforming them into representations of ordinary individuals in contemporary society. The analysis demonstrates that the film challenges the hierarchical structure of the grand narrative not by replacing its center but by granting marginal figures the agency to see, speak, choose, and construct meaning for themselves. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6043 KHẢO SÁT VIỆC CẢI BIÊN TIỂU THUYẾT HỒNG LÂU MỘNG THÀNH TÁC PHẨM SÂN KHẤU TẠI TRUNG QUỐC ĐẦU THẾ KỶ XXI 2026-09-11T08:07:09+07:00 TS Đặng Ngọc Ngận ngandng@hcmue.edu.vn TS Nguyễn Thị Tố Ninh Toninhtgtw@gmail.com Hồng lâu mộng là một trong những đỉnh cao của văn học cổ điển Trung Quốc và cũng là tác phẩm có sức sống đặc biệt trong đời sống sân khấu đương đại. Trên cơ sở khảo sát các tác phẩm sân khấu cải biên từ tiểu thuyết Hồng lâu mộng được công diễn tại Trung Quốc trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI, bài viết phân tích thực trạng và những xu hướng vận động nổi bật của hoạt động cải biên tác phẩm này. Kết quả nghiên cứu cho thấy truyền thống cải biên Hồng lâu mộng trong các loại hình hí khúc vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển, đồng thời ngày càng mở rộng sang nhiều hình thức sân khấu hiện đại như kịch nói, ballet, nhạc kịch… Qua đó, bài viết góp phần phác họa diện mạo cải biên sân khấu từ tiểu thuyết Hồng lâu mộng tại Trung Quốc đầu thế kỷ XXI, đồng thời khẳng định sức sống bền vững của kiệt tác này trong đời sống văn học và nghệ thuật Đông Á. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6041 NÓI KỀ TRONG VĂN HỌC NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI: CẢNH NGỘ VÀ SỰ KHÁNG CỰ NƠI KHÔNG GIAN RIÊNG TƯ TRONG TIẾNG ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ VÀ TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG 2026-09-11T04:32:46+07:00 TS Nguyễn Thị Minh minhnt@hcmue.edu.vn Bài viết đặt song song hai truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại, truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thúy và Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai. Bài viết lập luận rằng, thông qua“nói kề” vừa như một thủ pháp kĩ thuật, vừa như một thái độ, hai tác phẩm đã cho thấy cảnh ngộ và sự kháng cự của các nhân vật nữ đối với những quy chuẩn giới. Bằng việc phân tích nghịch lý của diễn ngôn thiên chức phụ nữ, thể hiện ở độ vênh giữa khả năng sinh đẻ và gánh nặng chăm sóc; cùng sự kháng cự của họ bằng chính không gian riêng tư và khả năng di chuyển, bài viết cho thấy những khả thể của văn chương nữ giới trong việc kéo gần khoảng cách giữa phụ nữ miền núi và phụ nữ miền xuôi. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6074 Ngoại giao văn hóa thông qua văn học ở Đông Á cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI: Đối chiếu mô hình Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và tiềm năng phát triển của Việt Nam 2026-09-24T09:18:31+07:00 TS Nguyễn Thị Bích Đào daontb@hcmue.edu.vn TÓM TẮT Ngoại giao văn hóa thông qua quảng bá văn học là một chiến lược quan trọng giúp các quốc gia gia tăng sức mạnh mềm và củng cố vị thế trên trường quốc tế. Từ góc nhìn liên ngành và trong khuôn khổ nghiên cứu chuyển đổi văn hóa - văn học từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI không còn tồn tại như một thực thể biệt lập, mà ngày càng trở thành nguồn tự sự quan trọng cho điện ảnh, truyền hình và công nghiệp nội dung, góp phần hình thành các làn sóng văn hóa đại chúng có sức ảnh hưởng toàn cầu. Bài viết phân tích, đối chiếu mô hình ngoại giao văn hóa thông qua văn học của Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, qua đó nhìn nhận tiềm năng phát triển của Việt Nam. Trọng tâm nghiên cứu là các phương thức dịch thuật, chuyển thể, xuất bản và khai thác nền tảng số, nhằm mở rộng khả năng lưu thông của văn học và chuyển hóa di sản văn học thành nguồn lực văn hóa năng động. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ vai trò của văn học trong thúc đẩy đối thoại liên văn hóa, xây dựng hình ảnh quốc gia và gia tăng ảnh hưởng văn hóa quốc tế, đồng thời gợi mở khả năng phát huy nguồn di sản văn học phong phú của Việt Nam trong chiến lược ngoại giao văn hóa đương đại. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6064 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NGHỆ SĨ TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT NHẬT BẢN: TRƯỜNG HỢP MỘT HOẠ SĨ PHÙ THẾ CỦA KAZUO ISHIGURO VÀ GIẾT CHỈ HUY ĐỘI KỴ SĨ CỦA HARUKI MURAKAMI 2026-10-13T08:31:52+07:00 TS Nguyễn Bích Nhã Trúc trucnbn@hcmue.edu.vn Th.S Phan Thị Thuỳ Nhung phanthithuynhung@ukh.edu.vn Kazuo Ishiguro và Haruki Murakami là hai nhà văn có vị trí nổi bật trong văn học đương đại, thường đặt nhân vật trước những biến động của lịch sử, ký ức và căn tính. Bài viết khảo sát hình tượng người nghệ sĩ trong Một họa sĩ phù thế (1986) của Kazuo Ishiguro và Giết chỉ huy đội kỵ sĩ (2017) của Haruki Murakami từ góc nhìn lí thuyết chấn thương và căn tính, tập trung vào mối quan hệ giữa ký ức, chấn thương, căn tính nghệ thuật và căn tính Nhật Bản. Vận dụng các quan niệm của Cathy Caruth và Dominick LaCapra, nghiên cứu làm rõ cách chấn thương lịch sử tác động đến sự hình thành và khủng hoảng căn tính của người nghệ sĩ, đồng thời khảo sát vai trò của ký ức và tự sự trong quá trình chủ thể nhìn lại và thương lượng với quá khứ. Kết quả cho thấy hình tượng người nghệ sĩ trong hai tác phẩm được kiến tạo trong sự tương tác giữa lựa chọn cá nhân, thực hành nghệ thuật và những biến động của lịch sử - xã hội. Qua đó, hai tác phẩm đặt ra vấn đề về khả năng tái cấu trúc căn tính nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cộng đồng và những hệ quả lịch sử của lựa chọn sáng tạo. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6044 TỪ DẠY ĐỌC HIỂU LIÊN VĂN BẢN ĐẾN ĐỐI THOẠI TƯ TƯỞNG NHO GIÁO: TƯƠNG QUAN XUẤT SƯ BIỂU VÀ DỤ CHƯ TÌ TƯỚNG HỊCH VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MÔN NGỮ VĂN 2018 2026-10-08T14:04:35+07:00 ThS. Huỳnh Văn Minh minhhv@hcmue.edu.vn Lê Hoàng Đạt Lehoangdat23.08@gmail.com Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018, việc tạo lập không gian đối thoại văn hóa trong nhà trường trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết hướng đến việc vận dụng lý thuyết văn bản loại hình của Genette như một khung lý thuyết chủ đạo để đề xuất các nguyên tắc dạy đọc hiểu văn bản nghị luận. Thông qua việc phân tích tương quan giữa hai áng văn kinh điển Đông Á là Xuất sư biểu và Dụ chư tì tướng hịch văn, bài viết làm sáng tỏ sự kế thừa và tiếp biến các tư tưởng Nho giáo: Trung và Nhân. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp một chiến lược dạy học đọc hiểu liên văn bản hiệu quả, và gợi mở cách tổ chức đối thoại tư tưởng Nho giáo trong nhà trường. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6063 CẤU TRÚC BẤT PHÂN TRONG VĂN HÓA ĐÔNG Á VÀ TÍNH LIÊN PHƯƠNG TIỆN NỘI VĂN BẢN - TRƯỜNG HỢP BỘ BA TAM THỂ CỦA LƯU TỪ HÂN 2026-09-10T10:01:04+07:00 PGS. TS. Đinh Phan Cẩm Vân vandpc@hcmue.edu.vn Sự trỗi dậy mạnh mẽ của văn học Đông Á trong những thập niên đầu thế kỷ XXI thường được lý giải là nhờ hỗ trợ của truyền thông kỹ thuật số. Tuy nhiên, bài viết cho rằng, chính cấu trúc bất phân của truyền thống văn hóa Đông Á là điều kiện thẩm mỹ nội tại, là phương thức phá vỡ các ranh giới biểu đạt giúp hình thành tính liên phương tiện nội văn bản, mang đến nhiều khả năng kết nối với các phương tiện truyền thông và các loại hình nghệ thuật khác. Khảo sát bộ ba Tam thể của Lưu Từ Hân và vận dụng lý thuyết liên phương tiện của W.Wolf, bài viết phân tích ba biểu hiện tiêu biểu của cấu trúc bất phân: Hư - Thực phá ranh giới thực tại và mô phỏng, Văn - Sử - Triết - Khoa học phá ranh giới giữa các lĩnh vực tri thức, Ý - Tượng phá ranh giới ngôn ngữ và hình ảnh, qua đó làm rõ tính bất phân không chỉ là đặc điểm cấu trúc của tác phẩm mà còn là nền tảng cho việc triển khai liên phương tiện nội văn bản. Bộ ba Tam thể của Lưu Từ Hân gợi mở suy nghĩ về khả năng vận động của văn học Đông Á trong bối cảnh công nghệ số thế kỷ XXI. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6065 Lựa chọn nội dung giáo dục văn hóa Việt Nam trong đào tạo sinh viên quốc tế: Tiếp cận từ Khung UNESCO (2024) 2026-09-16T04:31:37+07:00 TS Ngô Thị Thanh Tâm tamntt@hcmue.edu.vn Bài báo mô tả và phân tích nội dung giáo dục văn hóa Việt Nam trong ba chương trình đào tạo dành cho sinh viên quốc tế: Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE) và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE) — cùng ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam — và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (USSH VNUHCM) — ngành Việt Nam học. Bằng phương pháp phân tích tài liệu và thống kê mô tả, nghiên cứu rà soát toàn bộ khung chương trình đào tạo, phân loại các học phần có nội dung văn hóa trực tiếp theo Khung thành tố văn hóa, sau đó đối chiếu với ba nội dung then chốt của Khung UNESCO về Giáo dục Văn hóa và Nghệ thuật (2024) — học tập gắn bối cảnh, nguyên tắc đồng kiến tạo, và coi trọng đa dạng bản sắc cùng năng lực phản biện văn hóa. Kết quả cho thấy nội dung văn hóa hiện nay được lựa chọn theo một triết lý mang tính kế thừa — tích lũy các chủ đề truyền thống quen thuộc thuộc thành tố văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, để lại khoảng trống đáng kể ở hai thành tố văn hóa nhận thức và ứng xử với môi trường xã hội ở cả ba chương trình; đối chiếu với Khung UNESCO (2024), HCMUE và HNUE thể hiện khá rõ nguyên tắc học tập gắn bối cảnh, HNUE nổi bật về nguyên tắc đồng kiến tạo qua học phần thực địa, trong khi năng lực phản biện văn hóa chưa được thiết kế tường minh ở cả ba chương trình. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất bổ sung nội dung ở hai thành tố còn khuyết và nội dung địa phương hóa, mở rộng mô hình học phần thực địa, đối chiếu văn hóa nguồn — văn hóa đích, và bổ sung tường minh mục tiêu phản biện văn hóa trong đề cương học phần — nhằm cung cấp căn cứ tham khảo cho việc xây dựng, cải tiến chương trình đào tạo tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho sinh viên quốc tế. Hạn chế của nghiên cứu là phạm vi khảo sát mới dừng ở ba chương trình, dựa trên văn bản công khai chưa khảo sát thực tế giảng dạy, cần được kiểm chứng thêm qua các nghiên cứu tiếp theo. Từ khóa: Giáo dục văn hóa; Giáo dục xuyên văn hóa; Khung UNESCO về Giáo dục Văn hóa và Nghệ thuật (2024); Sinh viên quốc tế; Tiếng Việt như một ngoại ngữ Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6098 THE VOICE OF THE BODY AND IDENTITY CONSTRUCTION IN THE NOVELS BY HAN KANG 2026-10-29T07:43:56+07:00 TS Đàm Thu Hương huongdtth@hcmue.edu.vn TÓM TẮT Han Kang – nhà văn Hàn Quốc đoạt giải Nobel Văn học năm 2024 – là một trong những gương mặt nổi bật của văn chương Đông Á đương đại. Trong sáng tác của bà, thân thể luôn xuất hiện như một hình tượng trung tâm, không chỉ là đối tượng được miêu tả mà còn là một chủ thể trình hiện những diễn ngôn của Han Kang về văn hoá, xã hội và chính trị Hàn Quốc. Vận dụng các quan điểm lý thuyết về thân thể của Michel Foucault và Judith Butler, nghiên cứu này tập trung phân tích, lí giải những biểu hiện và vai trò của thân thể đối với quá trình kiến tạo căn tính của các nhân vật nữ trong ba tác phẩm Tay người lạnh giá (2002), Người ăn chay (2007) và Bài học tiếng Hy Lạp (2011). Nghiên cứu chỉ ra rằng thân thể trong các sáng tác của Han Kang đã trở thành một “văn bản xã hội”, nơi lưu trữ và ghi lại các diễn ngôn quyền lực và quy chuẩn văn hóa của thời đại. Đồng thời, đây cũng là phương thức để chủ thể bộc lộ sự phản kháng, khẳng định quyền tự quyết và tái thiết lập căn tính trước những kiểm soát, áp chế từ bên ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Han Kang đã hướng đến việc “giải huyền thoại” về một thân thể người nữ toàn vẹn, phục tùng theo nhãn quan phụ hệ, qua đó, phơi bày những giới hạn của các diễn ngôn thống trị và khẳng định một tiếng nói nữ quyền mới mẻ, độc đáo trong dòng chảy của văn chương đương đại. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6040 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA MÔN NGỮ VĂN TRONG KỈ NGUYÊN CHUYỂN ĐỔI SỐ 2026-09-08T09:46:02+07:00 TS Nguyễn Thành Ngọc Bảo baontn@hcmue.edu.vn Tháng 01 năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư 02/2025 quy định Khung năng lực số (NLS) cho người học – năng lực nền tảng của công dân toàn cầu trong thế kỉ XXI. Khung NLS này là cơ sở để các cơ sở giáo dục triển khai nghiên cứu, bổ sung, cập nhật yêu cầu về NLS cho người học vào chương trình, tài liệu học tập, tài liệu hướng dẫn,… Bài viết nhằm mục đích đề xuất định hướng phát triển NLS cho học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT) thông qua môn Ngữ văn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu lí thuyết bao gồm phân tích, tổng hợp và mô hình hóa nhằm đề xuất quy trình và biện pháp tích hợp mục tiêu NLS vào hoạt động dạy học Ngữ văn cấp THPT. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hai miền NLS phù hợp với đặc trưng của môn Ngữ văn là giao tiếp và hợp tác trong môi trường số và sáng tạo nội dung số. Thông qua việc khảo sát chương trình Ngữ văn năm 2018 và cấu trúc khung NLS của người học theo Thông tư 02/2025, nghiên cứu đề xuất quy trình và các biện pháp tích hợp các mục tiêu NLS vào hoạt động dạy học các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe trong môn Ngữ văn. Kết quả nghiên cứu này là định hướng hỗ trợ giáo viên (GV) thiết kế kế hoạch bài dạy (KHBD) môn Ngữ văn có tích hợp mục tiêu phát triển NLS cho HS THPT, góp phần đáp ứng yêu cầu của kỉ nguyên chuyển đổi số. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6061 Tiềm năng tích hợp giáo dục vì sự phát triển bền vững qua dạy học đọc hiểu văn bản văn học Đông Á đầu thế kỉ XXI trong sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông 2026-09-11T09:30:16+07:00 TS Nguyễn Thị Ngọc Thúy thuyntn@hcmue.edu.vn Ngô Lê Hồng Như nhuthd2003@gmail.com Giáo dục vì sự phát triển bền vững (Education for Sustainable Development - ESD) là một định hướng quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDG). Tại Việt Nam, việc tích hợp ESD vào dạy học đang được chú trọng triển khai. Môn Ngữ văn có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện định hướng tích hợp này. Đặc biệt, trong các bộ sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn trung học phổ thông (THPT) đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông (CTGDT) 2018, sự xuất hiện văn bản văn học (VBVH) Đông Á đầu thế kỉ XXI với việc phản ánh những vấn đề đương đại, cùng sự gần gũi về văn hóa, đã tạo thuận lợi để triển khai tích hợp ESD. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích các tài liệu liên quan đến tích hợp ESD trong dạy học, VBVH Đông Á đầu thế kỉ XXI trong các bộ SGK THPT đáp ứng CTGDPT môn Ngữ văn 2018. Trước tiên, các VBVH Đông Á đầu thế kỉ XXI trong SGK Ngữ văn THPT được khảo sát để xác định sự biểu hiện của vấn đề PTBV dựa trên khả năng diễn giải của VB. Sau đó các vấn đề PTBV ấy được kết nối với các SDG tương ứng trong 17 mục tiêu đã được Liên Hợp Quốc thông qua vào năm 2015. Trên cơ sở đó, bài viết xác định tiềm năng tích hợp ESD của từng VBVH trong dạy học đọc hiểu theo sự biểu hiện của vấn đề PTBV trong VB. Những kết quả ấy giúp đánh giá tiềm năng tích hợp ESD vào dạy đọc hiểu các VBVH Đông Á đầu thế kỉ XXI trong SGK Ngữ văn THPT. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc tích hợp ESD trong môn Ngữ văn, đồng thời làm rõ tiềm năng của văn học Đông Á đầu thế kỉ XXI trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục liên ngành ở trường phổ thông. Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh