Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos
<p><strong>TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HCMUE J. SCI.)</strong></p><p><strong> </strong></p><p>v <strong>Thông tin chung</strong></p><p><strong>Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.)</strong> là một Tạp chí mở, được phản biện kín hai chiều và xuất bản định kì (01 kì/ tháng).</p><p>Mục đích của <strong>HCMUE J. Sci.</strong> là góp phần vào sự phát triển và phổ biến kiến thức đa ngành về khoa học, giáo dục và các lĩnh vực khác để tăng cường đối thoại giữa các học giả, các nhà nghiên cứu và các học viên. Tạp chí rất mong nhận được các bản thảo phản ánh các kết quả nghiên cứu mới và có ý nghĩa khoa học cao. Tất cả các bản thảo của bài báo gửi đến Tạp chí phải là kết quả nghiên cứu gốc, cả về mặt thực nghiệm hay lí thuyết, chưa từng được công bố. Các bản thảo gửi đến phải tuân thủ các quy định của Tạp chí và không được đồng thời đến các tạp chí khác. Bản thảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên sẽ được thẩm định bởi các chuyên gia.</p><p>v <strong>Giới thiệu về tạp chí</strong></p><p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> là một Tạp chí đa ngành được tài trợ bởi Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi mong muốn mang đến cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên, sinh viên và độc giả những thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực khoa học cũng như tạo cho họ những điều kiện thuận lợi nhất để trao đổi học thuật. Tuân thủ các chính sách truy cập mở, các tài liệu được xuất bản có thể được sao chép và phổ biến mà không cần xin phép nhưng phải đưa ra trích dẫn đầy đủ, chính xác về nguồn gốc tài liệu. <strong>HCMUE J. Sci.</strong> công bố các kết quả nghiên cứu khoa học gốc bằng một trong bốn ngôn ngữ: tiếng Việt/ tiếng Anh/ tiếng Pháp hay tiếng Trung Quốc.</p><p>v <strong>Tuyên bố về đạo đức xuất bản</strong><strong></strong></p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> cam kết duy trì các tài liệu nghiên cứu gốc với chất lượng cao nhất. Tất cả các bản thảo được chấp nhận để xuất bản sẽ phải chịu sự kiểm duyệt nghiêm ngặt. Bất kì bản thảo nào bị nghi ngờ là đạo văn, giả mạo và tác giả không chính xác sẽ không được xuất bản.HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATIONvi-VNTạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh2734-9918TỔNG HỢP XÚC TÁC DỊ THỂ CaO-SiO2 TỪ VỎ CUA VÀ TRẤU ĐỂ ỨNG DỤNG CHO CHUYỂN HÓA OLEIC ACID
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4512
Biodiesel được xem là một nguồn năng lượng tái tạo, bền vững và thân thiện với môi trường để có thể thay thế các nguồn nhiên liệu hóa thạch. Biodiesel có thể được sản xuất bằng cách ester hóa các acid béo tự do hoặc chuyển hóa ester các triglyceride. Trong nghiên cứu ngày, vỏ cua được tận dụng như là một nguồn cung cấp CaO. CaO này được kết hợp với SiO2 từ trấu để tạo nên một xúc tác mới cho phản ứng ester hóa. Các đặc tính của xúc tác được nghiên cứu với các phương pháp XRD, FT-IR và SEM-EDX. Các xúc tác CaO và CaO-SiO2 đã tổng hợp được ứng dụng cho phản ứng ester hóa oleic acid. Sự ảnh hưởng của xúc tác, nhiệt độ, thời gian phản ứng và tỉ lệ mol MeOH:oleic acid đã được khảo sát. Kết quả cho thấy việc thêm SiO2 đã làm tăng tốc độ phản ứng trong khi tăng nhiệt độ nung đã làm tăng hiệu quả của xúc tác CaO-SiO2. Nhiệt độ và thời gian phản ứng ảnh hướng đến hiệu suất chuyển hóa oleic acid nhiều hơn là tỉ lệ mol MeOH:oleic acid. Hiệu suất chuyển hóa cao nhất là 78.49% đạt được tại các điều kiện phản ứng 68°C, 7h, 10% xúc tác CaO-SiO2 (900°C) và tỉ lệ MeOH:oleic acid là 10:1.Trần Thị Tố NgaTrịnh Hoài ThanhNguyễn Phúc Mỹ TrânVõ Hồng Tân TiếnVũ Minh Trường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học
1974198310.54607/hcmue.js.23.9.4512(2026)TRÍCH LI PROTEIN CÓ HỖ TRỢ SIÊU ÂM TỪ BÃ ĐẬU PHỘNG (ARACHIS HYPOGAEA) TÁCH BÉO ỨNG DỤNG TRONG SẢN XUẤT NƯỚC CHẤM
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5328
Bã đậu phộng đã tách béo – phụ phẩm chính trong quá trình sản xuất dầu đậu phộng – là nguồn nguyên liệu dồi dào để tạo ra các peptide mang vị umami nhờ hàm lượng cao các axit amin có tính axit, vốn đóng vai trò then chốt trong việc hình thành vị umami. Trong nghiên cứu này, protein từ bã đậu phộng đã tách béo (DPF) được chiết xuất bằng phương pháp hỗ trợ siêu âm (UAE) và được sử dụng để sản xuất nước chấm (liquid aminos). Các thông số kĩ thuật chính đã được đánh giá để xác định điều kiện chiết xuất tốt nhất, bao gồm: tỉ lệ nguyên liệu/dung môi 1:15 (w/v), pH 12, nhiệt độ chiết xuất 80 °C và thời gian siêu âm 20 phút. Với các điều kiện tối ưu này, hiệu suất thu hồi protein đạt 87.00 ± 7.21%. Dịch chiết protein thu được sau đó được thủy phân bằng enzyme Protease A (1% w/w) ở 60 °C trong 4 giờ để sản xuất nước chấm. Sản phẩm thu được có chất lượng dinh dưỡng cao, với hàm lượng nitơ tổng số là 4.69 ± 0.02 g/100 mL và hàm lượng nitơ dạng axit amin là 1.134 ± 0.02 g/L. Những kết quả này cho thấy DPF là nguồn nguyên liệu hiệu quả để sản xuất loại gia vị giàu nitơ thông qua quá trình thủy phân bằng enzyme.TS Nguyễn Văn Anhcử nhân Nguyễn Kim PhụngTS Nguyễn Công BỉnhVũ Thị Ngọc Ánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
10.54607/hcmue.js.23.9.5328(2026)XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THÔNG SỐ CỦA QUY TRÌNH THÍ NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HẠ GLUCOSE MÁU CỦA DỊCH CHIẾT LÁ ỔI TRÊN CHUỘT ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BỞI STREPTOZOTOCIN
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4843
Để đánh giá khả năng hạ glucose máu của cao chiết lá ổi (Psidium guajava L.), các thí nghiệm in vivo được thiết kế với các thông số như nồng độ và liều lượng của cao chiết, liều lượng Streptozotocin (STZ) được sử dụng để gây tổn thương tế bào β-đảo tuỵ ở chuột. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các yếu tố của quy trình thí nghiệm đánh giá hiệu quả của cao chiết trên mô hình chuột. Nghiên cứu đã xác định nồng độ cao chiết phù hợp và kiểm tra các chức năng sinh lí ở chuột, như sự thay đổi về trọng lượng cơ thể, stress oxy hóa thể hiện thông qua hàm lượng malondialdehyde (MDA) ở thận và tuyến tụy, nồng độ glucose máu, khả năng dung nạp insulin và glucose. Trong khoảng nồng độ cao chiết từ 100 mg/kg trọng lượng cơ thể (bw.) đến 800 mg/kg bw, kết quả không ghi nhận được các bất thường về hành vi, sinh lí. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa chuột ở nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng. Với một liều duy nhất (100, 150 hoặc 200 mg/kg bw), STZ đã gây tổn thương tế bào β-đảo tuỵ ở chuột gồm các triệu chứng đặc trưng như sự tăng đường huyết, bỏ ăn, giảm trọng lượng, kháng insulin và suy giảm dung nạp glucose. Kết quả cho thấy ở liều 150 mg/kg bw, STZ có hiệu quả gây ra các đặc điểm đái tháo đường này. Ngoài ra, tỉ lệ sống sót của chuột trong nhóm này cao hơn so với những con được điều trị bằng 200 mg/kg bw STZ.ThS Nguyễn Thị HằngHuỳnh Mai Anh ThưDương Chí HảiTrương Thị Minh ThưThS Nguyễn Ngọc Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
1996200810.54607/hcmue.js.23.9.4843(2026)QUY TRÌNH TIỀN XỬ LÍ DỮ LIỆU CHO XÂY DỰNG BIỂU DIỄN ẢNH TRONG PHÁT HIỆN XÂM NHẬP ĐA LỚP DỰA TRÊN CNN
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5534
Trong những năm gần đây, học sâu ngày càng được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong phát hiện tấn công mạng, với xu hướng chuyển đổi dữ liệu lưu lượng mạng có cấu trúc thành các biểu diễn dạng ảnh nhằm khai thác các mạng nơ-ron tích chập (CNN). Tuy nhiên, việc phát hiện xâm nhập đa lớp trên các bộ dữ liệu mạng được biểu diễn dưới dạng ảnh vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt khi dữ liệu bị mất cân bằng nghiêm trọng và các đặc trưng có phạm vi giá trị rất khác nhau. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất một quy trình tiền xử lí có cấu trúc nhằm chuẩn bị dữ liệu lưu lượng mạng trước khi xây dựng ảnh đầu vào cho các hệ thống phát hiện xâm nhập dựa trên CNN. Phương pháp kết hợp mã hóa đặc trưng phân loại, xử lí mất cân bằng lớp bằng ADASYN và cơ chế phân rã cơ số 256 đối với các thuộc tính số có giá trị lớn nhằm bảo toàn thông tin trong quá trình chuyển đổi sang dạng ảnh. Phương pháp được đánh giá trên bộ dữ liệu NSL-KDD với tập kiểm thử độc lập KDDTest+. Kết quả cho thấy quy trình tiền xử lí có hệ thống giúp cải thiện hiệu năng phát hiện đa lớp so với các thiết lập tiền xử lí tối thiểu.Hà Thanh DũngNguyễn Hồng Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2009202010.54607/hcmue.js.23.9.5534(2026)VỀ SỰ PHÂN TÍCH CÁC MA TRẬN TRONG TÂM HOÁ TỬ CỦA MỘT MA TRẬN WEYR
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4961
Cho là một trường đóng đại số có đặc số khác , và là một số nguyên dương. Giả sử là một ma trận Weyr cơ sở có cấu trúc Weyr thuần nhất với độ dài , và là tâm hóa tử của trong . Bài báo này tập trung mô tả nhóm con được sinh bởi các hoán tử của các ma trận đối hợp trong . Hơn nữa, chúng tôi chứng minh rằng mọi ma trận trong nhóm con này đều có thể biểu diễn được thành tích của nhiều nhất hoán tử của các ma trận đối hợp trong .Phạm Thị Thu ThủyĐoàn Cao Minh TríLê Quang TrườngTrần Hồ Nhựt Phát
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2021203310.54607/hcmue.js.23.9.4961(2026)NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH TRONG NHIỆM VỤ ĐO ĐỘ DỐC CẦU THANG: MỘT NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH TRONG LƯỢNG GIÁC Ở LỚP 9
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5481
Nghiên cứu định tính này khám phá cách học sinh lớp 9 biểu hiện năng lực giải quyết vấn đề toán học khi tham gia nhiệm vụ đo độ dốc cầu thang trong chủ đề tỉ số lượng giác của góc nhọn. Thay vì kiểm chứng việc hoạt động có làm nâng cao năng lực hay không, nghiên cứu mô tả các biểu hiện có thể quan sát được trong quá trình học sinh giải quyết một tình huống đo lường gắn với bối cảnh thực tế. Ba mươi chín học sinh lớp 9 tại Thành phố Hồ Chí Minh làm việc theo bảy nhóm để xác định các tiêu chí của cầu thang an toàn, đo đạc cầu thang trong trường, tính góc dốc bằng các tỉ số lượng giác (tang, sin, cos), sau đó trình bày và bảo vệ lời giải. Dữ liệu gồm ghi chú quan sát, phiếu học tập và sơ đồ nhóm, ảnh chụp và video phần trình bày. Dữ liệu được phân tích định tính theo bốn chỉ báo của năng lực giải quyết vấn đề toán học. Kết quả cho thấy học sinh có thể mô hình hóa tình huống độ dốc cầu thang thành một vấn đề toán học, lựa chọn chiến lược đo đạc khả thi, vận dụng phù hợp các tỉ số lượng giác, và đối chiếu kết quả với chuẩn an toàn đã cho. Nghiên cứu đóng góp một mô tả định tính về cách một nhiệm vụ đo lường theo bối cảnh có thể làm bộc lộ năng lực giải quyết vấn đề toán học của học sinh lớp 9 trong dạy học lượng giác.PGS. TS. Tăng Minh DũngSinh viên Lê Nguyễn Hoàng Oanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2034204510.54607/hcmue.js.23.9.5481(2026)PHÁT TRIỂN VÀ THỬ NGHIỆM VIDEO BÀI GIẢNG TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC TOÁN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5952
Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu thiết kế và phát triển trong giáo dục nhằm xây dựng và thử nghiệm một khung cấu trúc cùng một hệ thống các nguyên tắc thiết kế cho bài giảng video tương tác trong dạy học Toán ở trường trung học phổ thông theo mô hình lớp học đảo ngược, với mục tiêu hỗ trợ sự tham gia học tập và tiếp thu kiến thức ban đầu của học sinh trong giai đoạn tiền lớp học. Khung này được xây dựng dựa trên Lí thuyết Tải nhận thức, khung ICAP, thời điểm chèn các câu hỏi được xác định dựa trên cấu trúc video, còn mức độ nhận thức của câu hỏi được thiết kế theo Thang đo Bloom và tiến trình dạy học được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam. Nghiên cứu tính khả thi sau tác động với thiết kế một nhóm được thực hiện trên 60 học sinh lớp 10 tại một trường trung học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập từ các phân tích học tập được ghi nhận trên hệ thống học tập, câu trả lời của học sinh đối với các câu hỏi tương tác được chèn trong video và một bài kiểm tra ngắn sau video. Dữ liệu được phân tích dựa trên tỉ lệ hoàn thành, độ chính xác của từng câu hỏi. Việc tất cả học sinh hoàn thành các video được giao trước giờ học cung cấp những bằng chứng ban đầu về tính khả thi của khung đề xuất và tiềm năng hỗ trợ hoạt động học tập của học sinh trước giờ học. Tuy nhiên, do nghiên cứu thử nghiệm không có nhóm đối chứng và không thực hiện bài kiểm tra trước can thiệp, kết quả chưa cho phép đưa ra kết luận về việc liệu cách tiếp cận này có hiệu quả hơn phương pháp dạy học truyền thống hay không.Tiến sĩ Ngô Minh ĐứcPhạm Quốc Bảo
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2046205710.54607/hcmue.js.23.9.5952(2026)BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH KĨ THUẬT XÂY DỰNG Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN TQM: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THÁCH THỨC TRONG TRIỂN KHAI TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5448
Chương trình đào tạo ngành Kĩ thuật Xây dựng tại các trường đại học ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của vùng, song chất lượng đào tạo hiện nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Nghiên cứu này nhằm phân tích cơ sở lí luận và làm rõ các thách thức trong việc triển khai mô hình quản lí chất lượng tổng thể vào bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo ngành Kĩ thuật Xây dựng tại các trường đại học trong khu vực. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở tổng quan lí thuyết về quản lí chất lượng tổng thể kết hợp với phân tích các báo cáo tự đánh giá chương trình đào tạo của một số trường đại học ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình quản lí chất lượng tổng thể có tính phù hợp và khả thi khi vận dụng vào quản lí bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo, thông qua việc lấy người học làm trung tâm và thực hiện cải tiến liên tục theo chu trình PDCA (Plan - Do - Check - Act). Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra ba thách thức chủ yếu trong quá trình triển khai, bao gồm: hạn chế về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo; thiếu hụt đội ngũ giảng viên có trình độ cao và chuyên gia ngành xây dựng; chương trình đào tạo còn thiếu linh hoạt, chậm cập nhật công nghệ và kĩ năng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành Kĩ thuật Xây dựng theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể.Nguyễn Cao PhongNguyễn Văn XuânLê Tấn TruyềnĐoàn Ngọc Ánh Huy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2058206810.54607/hcmue.js.23.9.5448(2026)PHÂN TÍCH THƯ MỤC VÀ MÔ HÌNH TÍCH HỢP VỀ KHÔNG GIAN DỊCH VỤ TẠI CÁC CÔNG VIÊN GIẢI TRÍ THÔNG MINH Ở VIỆT NAM
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5007
Hiện nay, các công viên giải trí đang tăng cường việc tích hợp công nghệ vào hoạt động kinh doanh. Trong bối cảnh đó, bài viết này phân tích ba thành phần chính của không gian dịch vụ gồm không gian vật lí, xã hội và thông minh, cùng sự ảnh hưởng của chúng đến việc cảm nhận, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng tại các công viên giải trí ở Việt Nam. Nhóm tác giả dựa trên khung S–O–R và phân tích thư mục đã xây dựng được mô hình và kiểm định bằng PLS-SEM với 399 phản hồi hợp lệ. Kết quả nghiên cứu khẳng định cảm nhận khách hàng là yếu tố trung gian chính, chịu tác động từ ba yếu tố không gian và ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng, lòng trung thành. Ngoài ra, thông qua tương tác xã hội, không gian dịch vụ thông minh có tác động gián tiếp. Nghiên cứu này cung cấp một mô hình thực nghiệm tích hợp, góp phần mở rộng lí thuyết về không gian dịch vụ. Về mặt ứng dụng, kết quả nghiên cứu cho thấy việc cân bằng giữa các yếu tố thẩm mĩ không gian, tương tác xã hội và công nghệ thông minh là các yếu tố then chốt để tạo nên sự hài lòng và xây dựng lòng trung thành của khách hàng.Nguyễn Thanh TùngThS Văn Thị Nguyên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2069208010.54607/hcmue.js.23.9.5007(2026)ĐỐI CHIẾU CÁCH SỬ DỤNG GIỚI TỪ CHỈ ĐỊA ĐIỂM TRONG BẢN DỊCH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG HÀN: TÁC PHẨM “HOÀNG TỬ BÉ” CỦA ANTOINE DE SAINT-EXUPÉRY
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4760
Nghiên cứu tập trung vào phân tích và so sánh cách sử dụng giới từ chỉ địa điểm về các khía cạnh ngữ cảnh, chi tiết về bối cảnh và tâm trạng nhân vật trong bản dịch tiếng Anh và tiếng Hàn tác phẩm “The Little Prince” của nhà văn Antonie de Saint-Exupéry. Kết quả cho thấy sự tương đồng và biến đổi trong hệ thống giới từ chỉ địa điểm của hai bản dịch của tác phẩm. Hơn nữa, kết quả nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình dịch thuật cho phù hợp với văn hóa, phong cách trong cả bản tiếng Anh và tiếng Hàn. Nghiên cứu đã cung cấp góc nhìn mới về sự tương tác phức tạp giữa ngôn ngữ, văn hóa và văn học qua việc phân tích quá trình dịch thuật, đồng thời có những đóng góp quý báu vào lĩnh vực ngôn ngữ học và nghiên cứu dịch thuật đối với hai loại ngôn ngữ và hai nền văn hóa khác nhau.Nguyễn Thị Thanh Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học
2081209210.54607/hcmue.js.23.9.4760(2026)TÁI CẤU TRÚC Ý NGHĨA TRONG TỰ SỰ HẠ KÌ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM: TIẾP CẬN TỪ XU HƯỚNG THẾ TỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN HỌC
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5994
Bài viết làm rõ sự chuyển dịch của cơ chế kiến tạo ý nghĩa trong tự sự hạ kì trung đại Việt Nam dưới tác động của xu hướng thế tục. Trên cơ sở kết hợp tự sự học với lí thuyết diễn ngôn, nghiên cứu khảo sát ba thành tố cơ bản của cấu trúc tự sự gồm cốt truyện, nhân vật và giọng điệu – người kể qua Chuyện người con gái Nam Xương, Truyện Kiều và Hoàng Lê nhất thống chí. Kết quả cho thấy cơ chế kiến tạo ý nghĩa trong tự sự hạ kì trung đại đã chuyển từ mô hình quy phạm sang mô hình kiến tạo, thể hiện ở sự thay đổi của điều kiện tạo nghĩa, sự phân bố lại quyền năng phát ngôn và việc hình thành ý nghĩa trong tiến trình tự sự. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất nhìn nhận xu hướng thế tục như động lực thúc đẩy sự tái cấu trúc cơ chế kiến tạo ý nghĩa của tự sự hạ kì trung đại, đồng thời góp phần bổ sung cơ sở lí luận nhằm phát triển hoạt động đọc hiểu văn học trung đại theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018.TS Lê Đình Khanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2093210310.54607/hcmue.js.23.9.5994(2026)HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG YOUGLISH TRONG VIỆC CẢI THIỆN PHÁT ÂM TIẾNG ANH ĐỐI VỚI SINH VIÊN NGÀNH Ô TÔ Ở TRƯỜNG DẠY NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5621
Phát âm tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong việc giao tiếp thành công. Tuy nhiên, trong bối cảnh tiếng Anh được dạy và học như là ngoại ngữ (EFL) như ở Việt Nam, nhiều sinh viên vẫn còn hạn chế cơ hội tiếp xúc với tiếng Anh giao tiếp thực tế, các mẫu phát âm, cũng như điều kiện phù hợp để luyện phát âm. Mục đích của bài viết là nghiên cứu tính hiệu quả của sử dụng công cụ YouGlish giúp cải thiện độ dễ hiểu trong phát âm tiếng Anh của sinh viên trường cao đẳng nghề ở Việt Nam. Nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm với 40 sinh viên năm thứ hai ngành Công nghệ ô tô tại một trường cao đẳng nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó sinh viên sử dụng công cụ YouGlish trong bốn tuần. Dữ liệu phân tích được thu thông qua các bài kiểm tra đánh giá mức độ hiểu phát âm của sinh viên trước và sau thực nghiệm, kết hợp với bảng hỏi khảo sát nhận thức và đánh giá của sinh viên về công cụ này. Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm số các bài kiểm tra tăng lên đáng kể sau quá trình thực nghiệm. Ngoài ra, kết quả cũng chỉ ra rằng sinh viên nhận thức rõ hơn về các đặc điểm phát âm và có những đánh giá tích cực về tính hữu ích cũng như sự dễ dàng sử dụng của công cụ. Kết quả này cho thấy việc thường xuyên sử dụng các video mẫu phát âm trên YouGlish có thể giúp sinh viên ngành Công nghệ ô tô nhận ra các đặc trưng ngữ âm quan trọng và cải thiện giao tiếp tiếng Anh. Nghiên cứu cũng đề xuất những khuyến nghị về việc ứng dụng công nghệ như YouGlish trong dạy và học ngoại ngữ.M.A. Nguyễn Thị Bích VânPh.D. Đặng Nhơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2104211310.54607/hcmue.js.23.9.5621(2026)RÈN LUYỆN KĨ NĂNG CHĂM SÓC ĐÁP ỨNG VỚI TRẺ EM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON THEO CHU TRÌNH QUAN SÁT - PHẢN TƯ: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6075
Chăm sóc đáp ứng đòi hỏi giáo viên mầm non có khả năng nhận diện tín hiệu, nhu cầu của trẻ và điều chỉnh phản hồi phù hợp. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chu trình rèn luyện gồm năm giai đoạn: quan sát, nhận diện nhu cầu, phản hồi, phản tư và điều chỉnh hoạt động. Thiết kế bán thực nghiệm có nhóm đối chứng, đo trước – sau được thực hiện trong 8 tuần với 84 sinh viên năm thứ ba ngành Giáo dục mầm non, Trường Đại học Sài Gòn, trong quá trình thực hành, thực tập tại ba trường mầm non. Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm có mức cải thiện kĩ năng chăm sóc đáp ứng đối với cá nhân trẻ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (p < 0,001; d = 0,825), đồng thời kết quả quan sát thực hành nghề nghiệp cũng cho thấy mức cải thiện rõ rệt (p < 0,001; d=1,169). Phản tư nghề nghiệp được cải thiện có ý nghĩa thống kê (p = 0,014; d = 0,562), trong khi kĩ năng chăm sóc đáp ứng ở cấp độ nhóm trẻ chưa có sự khác biệt có ý nghĩa (p = 0,450). Kết quả cho thấy chu trình rèn luyện có hiệu quả đối với một số phương diện của kĩ năng chăm sóc đáp ứng, đồng thời gợi mở nhu cầu kéo dài thời gian và tăng cường tích hợp rèn luyện để phát triển kĩ năng ở cấp độ nhóm trẻ.Bùi Thị Xuân LụaGS TS Huỳnh Văn Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2114212510.54607/hcmue.js.23.9.6075(2026)PHÁT TRIỂN BẢN SẮC NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5533
Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở khái niệm về bản sắc nghề nghiệp của giáo viên tiếng Anh theo hướng tiếp cận đối thoại, tích hợp các yếu tố cá nhân – ngữ cảnh – chuyên môn; đồng thời mô tả thực trạng phát triển bản sắc nghề nghiệp của giáo viên tiếng Anh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố ảnh hưởng. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi trực tuyến với 182 giáo viên tiếng Anh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh theo phương thức chọn mẫu thuận tiện có chủ đích. Kết quả thống kê mô tả cho thấy chỉ số bản sắc nghề nghiệp tổng hợp đạt mức trung bình khá. Các chiều cạnh gắn với cam kết nghề nghiệp và giá trị dạy học đạt mức cao, trong khi năng lực tác nhân và khả năng thích ứng trước thay đổi chương trình, kiểm tra đánh giá còn thấp hơn. Tải kiểm tra đánh giá, áp lực thi cử và nhiệm vụ hành chính được ghi nhận là các yếu tố cản trở nổi bật; các yếu tố thúc đẩy gồm động lực nội tại, hợp tác đồng nghiệp và phản hồi về tiến bộ học tập của học sinh. Bài viết đề xuất giải pháp ở cấp độ cá nhân – nhà trường – hệ thống nhằm hỗ trợ phát triển bản sắc nghề nghiệp bền vững trong bối cảnh triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018.ThS Đinh Trần Hạnh NguyênTS Nguyễn Thị Xuân LanPGS TS Nguyễn Huỳnh Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2126213810.54607/hcmue.js.23.9.5533(2026)PHONG CÁCH DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC: VẬN DỤNG MÔ HÌNH GRASHA THEO PHỔ CHUYỂN GIAO TRÁCH NHIỆM HỌC TẬP
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6018
Phong cách dạy học phản ánh cách giáo viên (GV) vận dụng tri thức chuyên môn, tổ chức hoạt động học tập và tương tác với học sinh (HS) trong suốt quá trình dạy học. Bài viết nhằm hệ thống hóa cơ sở lí luận về phong cách dạy học và vận dụng mô hình phong cách dạy học của Grasha để đề xuất các nhóm phong cách dạy học phù hợp với bối cảnh giáo dục tiểu học. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu lí luận, kết hợp tổng quan tài liệu, phân tích nội dung, so sánh và tổng hợp các công trình liên quan đến phong cách dạy học. Dựa trên năm phong cách dạy học của Grasha gồm Chuyên gia, Người có thẩm quyền chính thức, Hình mẫu cá nhân, Người hướng dẫn và Người ủy quyền, bài viết phân tích và đề xuất bốn nhóm phong cách dạy học: Truyền đạt và Kiểm soát; Truyền đạt và Làm mẫu; Hướng dẫn và Khám phá; Hỗ trợ và Chuyển giao trách nhiệm. Kết quả cho thấy GV hiếm khi chỉ sử dụng một phong cách dạy học đơn lẻ mà thường kết hợp và điều chỉnh linh hoạt nhiều phong cách theo mục tiêu bài học, đặc điểm nội dung, năng lực của HS và bối cảnh lớp học cụ thể. Việc vận dụng mô hình Grasha cung cấp một khung lí thuyết toàn diện để mô tả sự chuyển dịch vai trò của GV, từ truyền đạt tri thức, duy trì kiểm soát và làm mẫu, đến hướng dẫn, hỗ trợ và trao quyền cho HS trong quá trình học tập. Khung lí luận được đề xuất có thể là cơ sở cho việc tự phản tư của GV, cho các chương trình bồi dưỡng chuyên môn và cho những nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo về phong cách dạy học của GV tiểu học.Nguyễn Đắc Thanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2139215010.54607/hcmue.js.23.9.6018(2026)MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG VÀ HẠNH PHÚC CỦA GIẢNG VIÊN TẠI ĐẠI HỌC TRÀ VINH
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6014
Nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa văn hóa chất lượng và hạnh phúc tại nơi làm việc của giảng viên Đại học Trà Vinh, đồng thời phân tích sự hỗ trợ của lãnh đạo và áp lực công việc. Thiết kế hỗn hợp kết hợp 12 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc (45–75 phút/phiên, ghi âm và ghi chép hiện trường, phiên mã tiếng Việt) với 385 phiếu khảo sát hợp lệ. Phân tích bằng JAMOVI cho thấy các thang đo có độ tin cậy nội tại cao (Cronbach’s α = 0,892–0,957). Mô hình hồi quy báo cáo giải thích 44,05% phương sai của hạnh phúc nghề nghiệp (R² = 0,4405). Văn hóa chất lượng có mối liên hệ dương nổi bật nhất (β = 0,597; p < 0,001); sự hỗ trợ lãnh đạo có liên hệ dương (β = 0,101; p=0,020), còn áp lực công việc có liên hệ âm (β = −0,113; p = 0,006). Các cuộc phỏng vấn làm rõ sự khác biệt giữa bảo đảm chất lượng mang tính thủ tục và văn hóa chất lượng được thực hành; vai trò của công nhận, phản hồi, công bằng; cùng xung đột thời gian giữa công việc chuyên môn và nhiệm vụ hành chính. Thiết kế cắt ngang không cho phép suy luận quan hệ nhân quả.Nguyễn Thị Ngọc XuânL Liêu Thanh Tâm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2151216210.54607/hcmue.js.23.9.6014(2026)TRẢI NGHIỆM ĐỐI MẶT VỚI QUẤY RỐI TÌNH DỤC TRỰC TUYẾN Ở THANH NIÊN: NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG HỌC DIỄN GIẢI
https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/6058
Ở Việt Nam, ít nghiên cứu về quấy rối tình dục trực tuyến (QRTDTT) từ góc nhìn thanh niên đã từng trải qua. Nghiên cứu này áp dụng phân tích hiện tượng học diễn giải (IPA) thông qua phỏng vấn sâu tám thanh niên 19–25 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) để tìm hiểu cách họ diễn giải sự việc, ứng phó với đe dọa và tìm lại cảm giác an toàn. Năm chủ đề trải nghiệm nhóm gồm: xâm phạm ranh giới an toàn; đe dọa tăng khi quyền chủ động thu hẹp; dấu ấn của đe dọa trong phản ứng tâm lí và cơ thể; nỗ lực khôi phục và duy trì quyền chủ động; bất an kéo dài sau ứng phó. Cảm nhận mức độ nghiêm trọng gắn với khả năng kiểm soát thông tin riêng tư và hậu quả đi kèm. Một số vẫn lo bị đe dọa tiếp; số khác thấy an toàn hơn khi tin rằng mình có thể ứng phó. Kết quả gợi mở giáo dục về đồng thuận, ranh giới số, bảo vệ quyền riêng tư, ứng phó với đe dọa phát tán nội dung và hỗ trợ không phán xét để người bị quấy rối lấy lại cảm giác an toàn.Đào Lê Tâm AnPGS. TS Phan Thị Mai Hương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
2163217410.54607/hcmue.js.23.9.6058(2026)