Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos <p><strong>TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HCMUE J. SCI.)</strong></p><p><strong> </strong></p><p>v <strong>Thông tin chung</strong></p><p><strong>Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.)</strong> là một Tạp chí mở, được phản biện kín hai chiều và xuất bản định kì (01 kì/ tháng).</p><p>Mục đích của <strong>HCMUE J. Sci.</strong> là góp phần vào sự phát triển và phổ biến kiến thức đa ngành về khoa học, giáo dục và các lĩnh vực khác để tăng cường đối thoại giữa các học giả, các nhà nghiên cứu và các học viên. Tạp chí rất mong nhận được các bản thảo phản ánh các kết quả nghiên cứu mới và có ý nghĩa khoa học cao. Tất cả các bản thảo của bài báo gửi đến Tạp chí phải là kết quả nghiên cứu gốc, cả về mặt thực nghiệm hay lí thuyết, chưa từng được công bố. Các bản thảo gửi đến phải tuân thủ các quy định của Tạp chí và không được đồng thời đến các tạp chí khác. Bản thảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên sẽ được thẩm định bởi các chuyên gia.</p><p>v <strong>Giới thiệu về tạp chí</strong></p><p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> là một Tạp chí đa ngành được tài trợ bởi Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi mong muốn mang đến cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên, sinh viên và độc giả những thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực khoa học cũng như tạo cho họ những điều kiện thuận lợi nhất để trao đổi học thuật. Tuân thủ các chính sách truy cập mở, các tài liệu được xuất bản có thể được sao chép và phổ biến mà không cần xin phép nhưng phải đưa ra trích dẫn đầy đủ, chính xác về nguồn gốc tài liệu. <strong>HCMUE J. Sci.</strong> công bố các kết quả nghiên cứu khoa học gốc bằng một trong bốn ngôn ngữ: tiếng Việt/ tiếng Anh/ tiếng Pháp hay tiếng Trung Quốc.</p><p>v <strong>Tuyên bố về đạo đức xuất bản</strong><strong></strong></p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> cam kết duy trì các tài liệu nghiên cứu gốc với chất lượng cao nhất. Tất cả các bản thảo được chấp nhận để xuất bản sẽ phải chịu sự kiểm duyệt nghiêm ngặt. Bất kì bản thảo nào bị nghi ngờ là đạo văn, giả mạo và tác giả không chính xác sẽ không được xuất bản. vi-VN journal@hcmue.edu.vn (Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.)) khoadv@hcmue.edu.vn (Đặng Vũ Khoa) Wed, 29 Apr 2026 09:22:39 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 TIẾP BIẾN VĂN HÓA SHOUJO (少女文化) TRONG SÁNG TÁC CỦA KAWABATA YASUNARI – TRƯỜNG HỢP TIỂU THUYẾT ĐẸP VÀ BUỒN https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4819 Vào những năm 1920, cùng với sự phát triển của nền văn hóa, văn học đại chúng thời kì Taisho (1912-1926), xuất hiện dòng văn hóa của tầng lớp nữ sinh tại các trường trung học Nhật Bản, được gọi là văn hóa Shoujo (Văn hóa thiếu nữ: Shoujo bunka/ 少女文化). Cùng với đó là sự ra đời của tiểu thuyết Shoujo (Shoujo sosetsu/ 少女小說) – tiền thân của dòng văn học đồng tính nữ Nhật Bản thế kỉ XX. Từ năm 1930 đến 1940, Kawabata Yasunari đã tham gia vào tạp chí Shoujo no tomo (少女の友) và chịu ảnh hưởng từ dòng văn học Shoujo trong giai đoạn đầu của sự nghiệp, khi đang định hình phong cách sáng tác. Bài báo hướng đến mục đích khám phá mối liên hệ, ảnh hưởng của trào lưu văn hóa, văn học Shoujo đối với sáng tác của Kawabata Yasunari nói chung, trường hợp tiểu thuyết Đẹp và buồn nói riêng; xem xét và chỉ ra nguồn gốc những “chất liệu nghệ thuật” mà Kawabata đã học hỏi, kế thừa được từ dòng văn hóa, văn học đại chúng Shoujo đầu thế kỉ XX. Bên cạnh đó, phân tích những sáng tạo, đóng góp riêng của Kawabata từ phương diện nghệ thuật kể chuyện và tư tưởng của tiểu thuyết Đẹp và buồn, xem xét vị trí của tiểu thuyết này trong dòng văn học đồng tính nữ của văn học hiện đại Nhật Bản. Nguyễn Bích Nhã Trúc Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4819 KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT Ở HỌC SINH LỚP 1 SONG NGỮ ANH – VIỆT: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5585 Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp dạy học chính tả tiếng Việt để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 1 trong môi trường song ngữ Anh – Việt. Nghiên cứu sử dụng thiết kế thực nghiệm trước – sau có đối chứng với 50 học sinh, chia thành nhóm thực nghiệm (n = 25) và nhóm đối chứng (n = 25). Dữ liệu được thu thập qua bài kiểm tra chính tả trước và sau thực nghiệm, kết hợp phân tích tần suất các loại lỗi. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm trước thực nghiệm (Sig. = 0,747 > 0,05), nhưng sau thực nghiệm, nhóm thực nghiệm đạt điểm trung bình cao hơn nhóm đối chứng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,035 < 0,05). Đồng thời, tỉ lệ lỗi chính tả giảm rõ rệt, đặc biệt ở nhóm lỗi do giao thoa Anh – Việt. Kết quả cho thấy hiệu quả của các biện pháp dạy học dựa trên đặc điểm ngôn ngữ của người học, đồng thời gợi ý hướng tổ chức dạy học chính tả theo định hướng phát triển năng lực trong bối cảnh giáo dục song ngữ. Nguyễn Thị Ly Kha, Trần Thị Mỹ Hạnh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5585 KHÚC HÁT NHỮNG DÒNG SÔNG CỦA NGUYỄN THẾ QUANG TỪ GÓC NHÌN CỦA “LÍ THUYẾT THẾ GIỚI NGÔN TỪ” https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5357 Bài viết hướng tới việc vận dụng “Lí thuyết Thế giới ngôn từ” để tiếp cận tiểu thuyết Khúc hát những dòng sông của Nguyễn Thế Quang. Đây là tác phẩm được đánh giá cao về mọi mặt trong nền văn học đương đại. Lí thuyết này xem tác phẩm như một thế giới sống động được chứa đựng trong một hệ thống ngữ liệu phức tạp và độc đáo. Trong đó, mỗi đơn vị ngôn từ là một dấu hiệu về sự “diễn giải” thế giới mà những đối tượng tham gia vào văn bản tạo ra. Sử dụng lí thuyết trên để nghiên cứu tác phẩm truyện có thể giúp người tiếp nhận và phân tích văn chương nhận thức một cách sâu sắc vẻ đẹp của thi pháp ngôn ngữ và hệ thống ý nghĩa ẩn chứa phía sau thế giới nghệ thuật của tác phẩm được nhà văn dày công xây dựng. Trần Thị Nhật, Hồ Linh Trung, Lê Nguyễn Thùy Dương Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5357 DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN CẢI ƠI! CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5456 Cải ơi! là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư, hiện có trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Đây là một ngữ liệu sát hợp để dạy học đọc hiểu văn bản văn học ở trường trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại. Trên cơ sở bám sát mục tiêu và yêu cầu cần đạt của việc dạy học đọc hiểu của chương trình Ngữ văn 2018, đồng thời nắm bắt được những đặc điểm của thể loại truyện ngắn hiện đại và cách tiếp cận thể loại này khi dạy học đọc hiểu, bài viết trình bày cách thức dạy học đọc hiểu văn bản Cải ơi! ở những yếu tố cơ bản của thể loại truyện ngắn như tình huống truyện, cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ nghệ thuật. Ở mỗi yếu tố, bài viết đã sử dụng các cơ sở lí thuyết vững chắc để soi chiếu và làm sáng tỏ giá trị đặc sắc của tác phẩm. Bằng cách này, bài viết góp phần làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật của tác phẩm từ hệ thống lí thuyết thể loại vững chắc. Ngoài ra, thông qua các kết quả thu được trong bài báo, giáo viên (GV) và học sinh (HS) có thể tìm thấy những thông tin bổ ích, phục vụ hiệu quả cho việc dạy và học Ngữ văn nói chung. Nguyễn Thị Kiều Giang, Bùi Trần Quỳnh Ngọc Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5456 MÔ HÌNH CHỦ THỂ HIỆN ĐẠI QUA KIỂU NHÂN VẬT TRÍ THỨC TÂY HỌC TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930-1945 https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5640 Bài viết khảo sát sự hình thành của mô hình chủ thể hiện đại thông qua kiểu nhân vật trí thức Tây học trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Dưới tác động của quá trình đô thị hoá và sự du nhập của văn minh phương Tây, tiểu thuyết giai đoạn này ghi nhận sự chuyển dịch từ mô hình con người truyền thống gắn với đạo lí cộng đồng sang mô hình chủ thể cá nhân tự ý thức. Thông qua phân tích một số nhân vật tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930-1945, bài viết chỉ ra rằng lớp trí thức Tây học trở thành hình tượng trung tâm, biểu hiện những biến đổi trong cấu trúc ý thức con người hiện đại. Các nhân vật này thể hiện sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, khát vọng tự do trong tình yêu và hôn nhân, niềm tin vào tư duy duy lí cũng như những khủng hoảng tinh thần của chủ thể đô thị. Qua đó, bài viết khẳng định tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930-1945 không chỉ phản ánh những biến đổi xã hội mà còn ghi nhận sự hình thành của mô hình chủ thể hiện đại trong văn học Việt Nam. Nguyễn Thị Thu Hiền Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5640 CÁI NHÌN NHẤT THỂ HÓA VỀ THẾ GIỚI TRONG THƠ TƯỢNG TRƯNG CỦA BÍCH KHÊ https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5345 Trong giai đoạn hình thành và phát triển Thơ mới theo khuynh hướng tượng trưng, Bích Khê được giới nghiên cứu đánh giá là một cây bút thành công nhất trong lĩnh vực thơ tượng trưng ở Việt Nam giai đoạn 1932-1945. Nói đến thơ Bích Khê, người ta thường chú ý đến ba khía cạnh: vẽ tranh lõa thể bằng thơ; thơ của hương thơm và nhạc điệu; bút pháp siêu thực, tượng trưng. Bích Khê đã đưa người đọc đến những tầng bậc sâu thẳm của cảm nhận, đó không chỉ là mộng, là ảo mà còn là tiềm thức và ảo giác nữa. Vì vậy, tìm hiểu thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê không chỉ để hiểu sâu hơn, đánh giá đúng hơn về thơ ông mà còn có được cơ hội hiểu đúng hơn về nhiều hiện tượng thơ ca khác trong nền văn học Việt Nam đương đại. Từ những dẫn giải trên, bài viết tìm hiểu yếu tố nhất thể hóa về thế giới tượng trưng trong thơ Bích khê để thấy được những đóng góp đặc sắc của ông đối với thơ tượng trưng Việt Nam giai đoạn 1932-1945 nói riêng và thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung. Phạm Thị Như Thúy Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5345 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4134 Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành Ngôn ngữ Anh của tân sinh viên Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (HUB). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trên nền tảng Google Forms thông qua khảo sát 234 sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có ba nhân tố ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định chọn ngành của sinh viên: (1) Danh tiếng và cơ hội nghề nghiệp, (2) Đặc điểm của bản thân, (3) Đặc điểm của trường học. Trong đó, nhân tố danh tiếng và cơ hội nghề nghiệp có tác động mạnh nhất, kế đến là nhân tố đặc điểm của bản thân, cuối cùng là nhân tố đặc điểm của trường học. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra ba khuyến nghị sau đây: (1) Tiếp tục nâng cao danh tiếng của HUB và cơ hội việc làm cho sinh viên, (2) Giúp sinh viên nhận thấy tính tương thích giữa HUB và đặc điểm bản thân sinh viên, và (3) Không ngừng quảng bá các thế mạnh về đặc điểm của HUB. Lưu Hớn Vũ Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4134 HỰC TRẠNG KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU SỬ DỤNG THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5260 Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, thư viện trực tuyến ngày càng đóng vai trò trung tâm trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu tại các trường đại học sư phạm. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng thư viện trực tuyến của người dùng tin, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong khai thác tài nguyên số. Bằng phương pháp hỗn hợp, nhóm nghiên cứu thu thập 2.180 mẫu khảo sát định lượng tại 7 trường đại học sư phạm trọng điểm và 10 phỏng vấn bán cấu trúc để bổ sung dữ liệu định tính. Kết quả cho thấy thư viện trực tuyến đã đáp ứng khá tốt nhu cầu người dùng đối với các nguồn tài liệu in truyền thống (ĐTB = 4.42), nhưng khả năng đáp ứng của tài nguyên số và cơ sở dữ liệu điện tử còn hạn chế (ĐTB = 4.21), chủ yếu do phạm vi tài nguyên hẹp, tính cập nhật chưa cao và kĩ năng tra cứu thông tin của người dùng còn yếu. Kết quả kiểm định Independent Samples T-test cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm sinh viên và nhóm giảng viên/học viên sau đại học trong đánh giá mức độ đáp ứng của cơ sở dữ liệu điện tử (p<.05), trong đó nhóm giảng viên/học viên sau đại học đánh giá cao hơn. Phân tích định tính củng cố nhận định này khi phần lớn sinh viên vẫn ưu tiên tài liệu in hơn tài liệu số. Nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp: (1) tăng cường số hóa học liệu sư phạm, (2) nâng cao năng lực thông tin của người học, (3) phát triển liên thông học liệu giữa các trường sư phạm, và (4) đầu tư hạ tầng công nghệ và dịch vụ hỗ trợ. Kết quả cung cấp căn cứ khoa học giúp các trường sư phạm xây dựng chiến lược phát triển thư viện trực tuyến đáp ứng nhu cầu đặc thù của người học trong thời kì chuyển đổi số. Lê Văn Hiếu, Giang Thiên Vũ, Trần Khánh Quyên Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5260 NHẬN ĐỊNH VỀ NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT CỦA HỌC SINH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5666 Năng lực và phẩm chất của học sinh (HS) là thành tố cốt lõi của quá trình giáo dục HS trở thành công dân toàn cầu, thích ứng với sự thay đổi, người có ích cho xã hội và góp phần duy trì và cải tiến chất lượng giáo dục của nhà trường; minh chứng cho tính toàn diện của chương trình giáo dục. Bài viết trình bày kết quả khảo sát, đánh giá nhận định của 3,831 giáo viên (GV) và 5,702 HS về năng lực và phẩm chất của HS (gồm 11 nội dung) trong các trường trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), Bình Dương và Tây Ninh cho thấy GV và HS tại TPHCM và Bình Dương đánh giá các nội dung khảo sát cao hơn GV và HS tại Tây Ninh; kiểm định T-test giữa GV và HS tại TPHCM có 9/11 nội dung và tại Bình Dương có 11/11 nội dung có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, tại Tây Ninh có 11/11 nội dung không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý kiến đánh giá giữa GV và HS; kiểm định ANOVA giữa 3 tỉnh đối với GV có 11/11 nội dung và đối với HS có 10/11 nội dung có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Đỗ Đình Thái, Nguyễn Thị Tú Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5666 XÂY DỰNG THANG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC THỐNG KÊ Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5073 Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán năm 2018, thống kê được chính thức đưa vào như một lĩnh vực nội dung mới, giảng dạy liên tục từ lớp 2 đến lớp 12. Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, đánh giá theo định hướng năng lực trở thành một yêu cầu cốt lõi, nhấn mạnh việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm thiết kế và kiểm chứng một bảng tiêu chí (rubric) đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trung học cơ sở trong học tập thống kê, phù hợp với định hướng của Chương trình Toán 2018. Rubric được xây dựng dựa trên bốn tiêu chí cốt lõi, hướng tới việc hỗ trợ đánh giá quá trình, nâng cao hiệu quả dạy học và thúc đẩy thành tích học tập của học sinh. Để kiểm chứng độ tin cậy và tính khả thi, nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, bao gồm khảo sát 66 giáo viên toán và thực nghiệm lớp học với 34 học sinh lớp 9. Kết quả cho thấy giáo viên đánh giá rubric ở mức cao (điểm trung bình 4,26–4,38; SD = 0,79–1,09), đồng thời phân tích độ tin cậy cho thấy sự nhất quán nội tại rất cao (Cronbach’s α = 0,956). Quá trình kiểm chứng khẳng định rubric có thể áp dụng hiệu quả trong thực tiễn và phù hợp với mục tiêu chương trình. Nhìn chung, nghiên cứu làm nổi bật tiềm năng của rubric như một công cụ đánh giá theo định hướng năng lực, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Toán. Trần Minh Mẫn, Lê Thái Bảo Thiên Trung, Lê Chân Đức Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5073 MÔ HÌNH ARCS TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI VIỆC THIẾT KẾ ĐỒ DÙNG HỖ TRỢ DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “NGUYÊN TỬ” https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4801 Mô hình ARCS là khung lí thuyết hiệu quả được dùng để nâng cao động lực học tập thông qua bốn thành tố: sự chú ý, sự liên quan, sự tự tin và sự hài lòng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm ứng dụng mô hình ARCS vào thiết kế và đánh giá hiệu quả của đồ dùng hỗ trợ dạy học trong chủ đề “Nguyên tử” thuộc môn Khoa học tự nhiên lớp 7. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thực nghiệm sư phạm với 34 học sinh, sử dụng bảng hỏi theo thang đo Likert và phỏng vấn bán cấu trúc. Kết quả bước đầu cho thấy đồ dùng hỗ trợ dạy học giúp tăng cường sự chú ý, tính liên quan của bài học, nâng cao sự tự tin và tạo cảm giác hài lòng cho học sinh khi tiếp cận nội dung mới. Nghiên cứu này góp phần khẳng định tiềm năng của mô hình ARCS trong việc thiết kế đồ dùng dạy học chủ đề “Nguyên tử” nói riêng và môn Khoa học tự nhiên nói chung. Thái Hoài Minh, Lê Lâm Ngọc Hiếu, Ngô Nguyễn Khánh Huyền, Đặng Thị Diễm My, Nguyễn Minh Tuấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4801 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ TÁI CHẾ RÁC THẢI NHỰA https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4977 Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, rác thải nhựa đã và đang trở thành một trong những thách thức môi trường lớn nhất trên toàn cầu. Với đặc tính khó phân hủy sinh học, nhựa tồn tại hàng trăm năm trong môi trường tự nhiên, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái, sức khỏe con người và sự phát triển bền vững. Dựa trên thực trạng rác thải nhựa hiện nay, bài báo đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả và bền vững, bao gồm: áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao nhận thức cộng đồng để giảm thiểu rác thải nhựa; tăng cường tái sử dụng, tái chế và ứng dụng công nghệ xử lý hiện đại. Trong đó, công nghệ tái chế là giải pháp quan trọng trong quản lý rác thải nhựa bền vững. Trương Thị Bích Hồng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4977 CẤU TRÚC NHÓM NHÂN CỦA VÀNH THƯƠNG CỦA VÀNH SỐ NGUYÊN ĐẠI SỐ Z[sqrt(-6)] https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5363 Trong bài báo này, chúng tôi mô tả đầy đủ cấu trúc nhóm nhân của vành thương của vành các số nguyên đại số Z[sqrt(-6)] theo các iđêan là luỹ thừa của iđêan nguyên tố. Từ đó, như là hệ quả, chúng tôi mô tả trọn vẹn cấu trúc nhóm nhân của vành thương của vành các số nguyên đại số Z[sqrt(-6)] theo iđêan khác không bất kỳ. Cuối cùng, bài báo xây dựng một ví dụ minh họa được xem như là áp dụng các kết quả nghiên cứu trên trong trường hợp cụ thể. Mỵ Vinh Quang, Nguyễn Cao Minh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5363 Giải số phương trình Schrödinger bằng phương pháp ma trận https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5006 Nghiên cứu này trình bày việc giải phương trình ma trận Schrödinger sử dụng các ma trận đối xứng 3 đường chéo và 7 đường chéo. Cách tiếp cận này dựa trên khai triển chuỗi Taylor bậc n để tính toán gần đúng đạo hàm bậc hai. Nó được áp dụng để tính toán các trạng thái liên kết và trạng thái tán xạ cho bài toán chuyển động một hạt trong hố thế vuông hữu hạn sử dụng hệ đơn vị tự nhiên. Các kết quả giải số được so sánh với nghiệm giải tích cho thấy phương pháp ma trận đối xứng 7 đường chéo đưa ra độ chính xác tốt hơn, đặc biệt là tính toán độ lệch pha cho các trạng thái tán xạ. Nguyễn Gia Huy, Nguyễn Vũ Thụ Nhân, Nguyễn Lê Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5006 ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP EXPLAINABLE ARTIFICIAL INTELLIGENCE (XAI) VÀ CÁC MÔ HÌNH HỌC MÁY TRUYỀN THỐNG XỬ LÝ BÀI TOÁN TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4613 Nghiên cứu này tập trung vào việc giải quyết thách thức dự báo sản lượng điện năng lượng mặt trời cho công ty Enefit thông qua việc ứng dụng XAI kết hợp với các mô hình học máy. Mục tiêu là xác định những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sản lượng điện và tiêu thụ, nhằm phục vụ cho quá trình tích hợp liền mạch các hệ thống quang điện (PV) vào lưới điện quốc gia. Nghiên cứu cũng đề xuất các phương pháp học máy khác nhau giúp nâng cao độ chính xác của dự báo, bằng cách kết hợp dữ liệu như: thời tiết lịch sử; giá khí đốt và giá điện, cùng với các yếu tố về dự báo thời tiết. Nhóm nghiên cứu đã phát triển nhiều mô hình như tuyến tính, phi tuyến tính và LightGBM (LGBM), tiếp tục tiến hành thí nghiệm để tìm ra mô hình hiệu quả nhất. Kết quả nghiên cứu đã giúp giảm thiểu sự mất cân bằng trong lưới điện, đồng thời nâng cao hiệu suất và độ tin cậy khi tích hợp năng lượng tái tạo. Những nỗ lực nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc tích hợp dữ liệu thời gian thực và áp dụng các kỹ thuật học sâu (deep learning) nhằm nâng cao độ chính xác và hiệu quả của dự báo. Nguyễn Thành Huy, Đinh Tấn Lộc, Nguyễn Nhật Quang, Trần Thị Kim Chi, Hoàng Quỳnh Anh, Lê Di Khanh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4613 XÁC ĐỊNH BIẾN ĐỘNG DI TRUYỀN CỦA DÂU TÂY KHI CHIẾU XẠ BẰNG TIA X https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5392 Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng 03 kỹ thuật để phân lập và khuếch đại các phân đoạn DNA theo tính chất ngẫu nhiên hoàn toàn ( RAPD), bán ngẫu nhiên nhắm đến Codon mở đầu của các gene (SCoT) và bán ngẫu nhiên nhắm đến trình tự hộp CAAT đặc trưng cho promoter của gene (CBDP). Những kỹ thuật này có độ nhạy và tính đa hình cao, có thể giúp phân biệt các mẫu tốt, dễ dàng thực hiện, giá thành rẻ để xác định biến động di truyền bằng kỹ thuật phân tích vân tay DNA đối với mẫu dâu tây. Thiết bị chiếu xạ tia X tại Trường Đại học Đà Lạt đã được sử dụng để nghiên cứu khả năng biến động di truyền của dâu tây trồng tại tỉnh Lâm Đồng. Các mẫu dâu tây được chiếu xạ thay đổi liều chiếu từ 0 Gy đến 1.200 Gy với suất liều 13,870 Gy/phút so với mẫu đối chứng. Đồng thời cố định liều chiếu ở 1.000 Gy và thay đổi các suất liều khác nhau theo các giá trị sau: 3,370 Gy/phút, 8,630 Gy/phút, 12,572 Gy/phút, 13,870 Gy/phút, 15,204 Gy/phút, 19,120 Gy/phút, 24,450 Gy/phút. Nghiên cứu cho thấy sự biến động di truyền ở các mẫu dâu tây là không đáng kể, qua đó khẳng định sản phẩm đảm bảo chất lượng và an toàn đối với người tiêu dùng. Từ khóa: Chiếu xạ; Dâu tây; Liều chiếu; Tia X Lê Đoàn Đình Đức Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5392