Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos <p><strong>TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HCMUE J. SCI.)</strong></p><p><strong> </strong></p><p>v <strong>Thông tin chung</strong></p><p><strong>Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.)</strong> là một Tạp chí mở, được phản biện kín hai chiều và xuất bản định kì (01 kì/ tháng).</p><p>Mục đích của <strong>HCMUE J. Sci.</strong> là góp phần vào sự phát triển và phổ biến kiến thức đa ngành về khoa học, giáo dục và các lĩnh vực khác để tăng cường đối thoại giữa các học giả, các nhà nghiên cứu và các học viên. Tạp chí rất mong nhận được các bản thảo phản ánh các kết quả nghiên cứu mới và có ý nghĩa khoa học cao. Tất cả các bản thảo của bài báo gửi đến Tạp chí phải là kết quả nghiên cứu gốc, cả về mặt thực nghiệm hay lí thuyết, chưa từng được công bố. Các bản thảo gửi đến phải tuân thủ các quy định của Tạp chí và không được đồng thời đến các tạp chí khác. Bản thảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên sẽ được thẩm định bởi các chuyên gia.</p><p>v <strong>Giới thiệu về tạp chí</strong></p><p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> là một Tạp chí đa ngành được tài trợ bởi Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi mong muốn mang đến cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên, sinh viên và độc giả những thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực khoa học cũng như tạo cho họ những điều kiện thuận lợi nhất để trao đổi học thuật. Tuân thủ các chính sách truy cập mở, các tài liệu được xuất bản có thể được sao chép và phổ biến mà không cần xin phép nhưng phải đưa ra trích dẫn đầy đủ, chính xác về nguồn gốc tài liệu. <strong>HCMUE J. Sci.</strong> công bố các kết quả nghiên cứu khoa học gốc bằng một trong bốn ngôn ngữ: tiếng Việt/ tiếng Anh/ tiếng Pháp hay tiếng Trung Quốc.</p><p>v <strong>Tuyên bố về đạo đức xuất bản</strong><strong></strong></p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> cam kết duy trì các tài liệu nghiên cứu gốc với chất lượng cao nhất. Tất cả các bản thảo được chấp nhận để xuất bản sẽ phải chịu sự kiểm duyệt nghiêm ngặt. Bất kì bản thảo nào bị nghi ngờ là đạo văn, giả mạo và tác giả không chính xác sẽ không được xuất bản. vi-VN journal@hcmue.edu.vn (Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.)) khoadv@hcmue.edu.vn (Đặng Vũ Khoa) Tue, 30 Jun 2026 16:09:42 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG KIT ROBOTICS TRONG DẠY HỌC VỀ LỰC MA SÁT https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5409 Khi tổ chức hoạt động thiết kế và thực hiện phương án thí nghiệm vật lí, đặc biệt là các nội dung có nhiều giả thuyết cần kiểm chứng, các thiết bị thí nghiệm hiện nay hiện chưa thể thay đổi linh hoạt nhằm đáp ứng sự đa dạng trong thiết kế của học sinh. Báo cáo này tập trung phân tích một số ưu, nhược điểm của các bộ thí nghiệm hiện có cũng như các bộ kit robot được sử dụng trong việc tổ chức dạy học môn vật lí. Từ đó, chúng tôi đề xuất một phương án xây dựng bộ kit dùng trong dạy học vật lí. Bộ kit được xây dựng nhờ tận dụng tính linh hoạt về mặt cơ khí của LEGO, vi xử lí ESP32 và ứng dụng phyphox để hỗ trợ học sinh biểu diễn và xử lí số liệu. Báo cáo cũng trình bày các phương án thí nghiệm khác nhau với bộ kit ở nội dung lực ma sát trong chương trình vật lí phổ thông, qua đó làm rõ ưu điểm trong việc hỗ trợ học sinh thiết kế và thực hiện đa dạng các phương án thí nghiệm khi học tập nội dung này. Nguyễn Võ Thanh Việt, Tưởng Duy Hải, Đặng Thanh Hải Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5409 DẠY HỌC VỀ PHÂN RÃ PHÓNG XẠ THEO PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH VỚI NỀN TẢNG COACH CHO HỌC SINH CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ A LEVEL https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5401 Bài báo tập trung phân tích khái niệm và cấu trúc của năng lực mô hình hóa, đồng thời đề xuất một hướng tiếp cận trong dạy học Vật lí theo phương pháp mô hình nhằm phát triển năng lực này cho học sinh. Dựa trên định hướng đó, nhóm tác giả xây dựng và triển khai một hoạt động dạy học chủ đề “Phân rã phóng xạ” có tích hợp nền tảng COACH – công cụ hỗ trợ mô phỏng, thu thập và xử lí dữ liệu trong dạy học vật lí. Bài học được thiết kế theo định hướng giáo dục STEM, tạo điều kiện cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ mô hình hóa như: mô phỏng các quá trình phân rã phóng xạ, xây dựng mô hình phản ứng hạt nhân, phân tích dữ liệu thu được và kiểm chứng mô hình. Kết quả khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm cho thấy học sinh thể hiện rõ các biểu hiện của năng lực mô hình hóa như: nhận diện bản chất của hiện tượng vật lí, sử dụng công cụ số để xây dựng và kiểm tra mô hình, cũng như có khả năng đánh giá và điều chỉnh mô hình dựa trên dữ liệu thực nghiệm. Nguyễn Quý Thịnh, Trần Bá Trình, Tưởng Duy Hải Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5401 MÔ PHỎNG MÔ HÌNH FERMI–HUBBARD BẰNG THUẬT TOÁN BIẾN PHÂN LƯỢNG TỬ SỬ DỤNG ANSATZ HYBRID HEA–HVA https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5488 Mô phỏng mô hình Fermi–Hubbard là bài toán then chốt trong vật lý vật chất ngưng tụ nhưng thường vượt quá khả năng của các phương pháp tính toán cổ điển khi quy mô hệ tăng. Nghiên cứu này đề xuất một quy trình mô phỏng lượng tử biến phân sử dụng VQE và VQD để ước lượng năng lượng trạng thái cơ bản và mức kích thích thứ nhất. Ansatz lai HEA–HVA được thiết kế và kết hợp linh hoạt ưu điểm của chúng nhằm tối ưu cân bằng giữa khả năng biểu diễn trạng thái và chi phí tài nguyên mạch lượng tử. Thông qua mô phỏng số trên các cấu hình chuỗi 4×1, mạng vuông 2×2 và vòng 6 vị trí với tỉ số tương tác U/t từ 0 đến 4, kết quả cho thấy Hybrid HEA–HVA hội tụ ổn định và tái tạo tốt năng lượng cơ bản cũng như mức kích thích thấp nhất. So với các ansatz thuần túy, cấu trúc lai cho sai lệch năng lượng nhỏ hơn hoặc tương đương, đặc biệt hiệu quả trong vùng tương tác trung bình mạnh, đồng thời vẫn duy trì độ sâu mạch phù hợp trong bối cảnh NISQ. Nghiên cứu khẳng định tiềm năng của ansatz lai trong mô phỏng các hệ fermion tương quan mạnh và tạo tiền đề để mở rộng sang các hệ có phổ năng lượng phức tạp hơn trên quy mô lớn. Dụng Văn Lữ, Phạm Văn Anh, Hồ Xuân Nhật, Trần Minh Đức, Phạm Đăng Quang, Dụng Văn Nhật Tân Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5488 Sán lá song chủ trong các kênh nhỏ cung cấp nước trực tiếp cho ao nuôi cá da trơn ở khu vực Bình Chánh của thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5572 Sán lá song chủ gây bệnh qua thức ăn là một vấn đề về y tế công cộng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng cá Cồ đém (Pangasius larnaudii) và cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi trong các ao nuôi thủy sản ở khu vực Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, bị nhiễm sán lá song chủ. Nghiên cứu xem các nguồn nước cung cấp cho ao nuôi có thể góp phần vào quá trình truyền bệnh bằng cách đưa ký chủ trung gian và/hoặc ấu trùng sán lá giai đoạn cercariae vào ao hay không. Một nghiên cứu về ấu trùng sán lá (giai đoạn cercariae) từ ốc thu thập trong 16 kênh nhỏ cung cấp nước trực tiếp cho ao nuôi cá da trơn ở khu vực Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam đã được tiến hành vào tháng 1 (mùa khô) và tháng 6 (mùa mưa) năm 2023. Tổng cộng có 2065 con ốc thuộc 9 loài đã được kiểm tra. Bốn loài bị nhiễm sán lá (giai đoạn cercariae) là Indoplanorbis exustus, Lymnaea viridis, Bithynia siamensis và Melanoides tuberculata. Bốn dạng hình thái cercariae, gồm furcocercous, pleurolophocercous, xiphidio và echinostome đã được phát hiện. Cần tiến hành nghiên cứu thêm về tất cả nguồn nước cung cấp cho cá da trơn nuôi trong ao để có thể kiểm soát sán lá song chủ và sản xuất cá tra không có cercariae, góp phần vào phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững và đảm bảo an toàn thực phẩm. Phạm Cử Thiện, Hồ Thế Mạnh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5572 K-quỹ đạo của các nhóm Lie giải được mà đại số Lie tương ứng 7-chiều với căn lũy linh 5-chiều https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5211 Phương pháp quỹ đạo của Kirillov là công cụ quan trọng trong nghiên cứu biểu diễn nhóm Lie và đại số Lie mà trong đó, các quỹ đạo đối phụ hợp đóng vai trò trung tâm. Bài báo này nghiên cứu cấu trúc hình học các quỹ đạo đối phụ hợp của các nhóm Lie liên thông, đơn liên khi cấu trúc của đại số Lie tương ứng đã được cho cụ thể. Dựa trên kết quả phân loại gần đây về một lớp đặc biệt các đại số Lie giải được 7-chiều với căn lũy linh 5-chiều cho trước, bài báo sẽ giới thiệu một phép mô tả tường minh bức tranh hình học các quỹ đạo đối phụ hợp của các nhóm Lie liên thông đơn liên tương ứng với lớp đặc biệt các đại số Lie 7-chiều đó. Nguyễn Minh Triết Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5211 BA KHÔNG GIAN LÀM VIỆC XÁC SUẤT VÀ SỰ KẾT NỐI TRONG CÔNG VIỆC TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5381 Xác suất là mạch kiến thức rất quan trọng của Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018 cấp trung học phổ thông của Việt Nam. Tuy nhiên, cách tiếp cận trong các sách giáo khoa hiện nay chủ yếu dựa trên nghĩa cổ điển, trong khi tiếp cận tần suất và chủ quan ít được khai thác. Điều này hạn chế khả năng hình thành hiểu biết toàn diện về xác suất của học sinh. Dựa trên lý thuyết Không gian làm việc toán học (Mathematical Working Spaces - MWS), nghiên cứu này đề xuất phân biệt ba không gian làm việc xác suất: không gian cổ điển (CPWS), không gian thực nghiệm (FPWS) và không gian chủ quan (SPWS), nhằm phân tích công việc toán học của học sinh trong các tình huống học tập xác suất có tích hợp mô phỏng ngẫu nhiên với bảng tính Excel. Bốn tình huống học tập đã được thiết kế và triển khai thực nghiệm tại hai lớp 12 ở Huế và Đà Nẵng, trong đó học sinh sử dụng Excel để mô phỏng biến cố ngẫu nhiên, tính toán xác suất, dự đoán xác suất và so sánh kết quả giữa các mô hình. Dữ liệu từ bài làm nhóm và phỏng vấn học sinh được phân tích theo ba chiều của MWS: phát sinh công cụ, phát sinh ký hiệu và phát sinh lập luận. Kết quả cho thấy học sinh không chỉ vận hành công việc toán học trong từng không gian làm việc xác suất mà còn thể hiện các kết nối rõ rệt giữa ba không gian FPWS, SPWS và CPWS. Trải nghiệm mô phỏng với Excel giúp học sinh hình thành dự đoán hợp lý và củng cố lập luận xác suất cổ điển, trong khi các tính toán xác suất lý thuyết hỗ trợ học sinh điều chỉnh dự đoán chủ quan và hiểu sự hội tụ giữa tần suất và xác suất. Nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của ba không gian làm việc xác suất trong việc phát triển hiểu biết sâu về xác suất của học sinh và nhấn mạnh giá trị của mô phỏng với công nghệ trong dạy học xác suất ở trường phổ thông. Nguyễn Thị Sinh, Trần Kiêm Minh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5381 ECL-tEEG: MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG CẢM XÚC CỦA NGƯỜI HỌC DỰA TRÊN SÓNG NÃO https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4873 Nhận diện cảm xúc và đánh giá mức độ tham gia của người học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và tối ưu hóa phương pháp giảng dạy cá nhân hóa. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng video hoặc hình ảnh kết hợp với mô hình học sâu để phân tích hành vi và cảm xúc. Tuy nhiên, phương pháp này dễ bị ảnh hưởng bởi góc quay, điều kiện ánh sáng và biểu cảm khuôn mặt không rõ ràng, dẫn đến sai lệch trong đánh giá cảm xúc. Để khắc phục những hạn chế đó, nghiên cứu này đề xuất mô hình ECL-tEEG, một mô hình kết hợp CNN, LSTM-GRU và Transformer nhằm phân tích tín hiệu điện não (EEG) để nhận diện cảm xúc và đánh giá mức độ tham gia của người học. Mô hình đề xuất tận dụng CNN để trích xuất đặc trưng không gian, LSTM-GRU để học đặc trưng tuần tự theo thời gian và Transformer để khai thác các mối quan hệ dài hạn theo cơ chế học song song. Để đánh giá hiệu suất, nghiên cứu tiến hành thử nghiệm trên ba mô hình: CNN-LSTM-GRU, CNN-Transformer và ECL-tEEG. Kết quả thực nghiệm cho thấy ECL-tEEG đạt độ chính xác 71%, vượt trội hơn hai mô hình còn lại trong phân loại cảm xúc tích cực, trung tính và tiêu cực. Nghiên cứu này không chỉ khẳng định tiềm năng ứng dụng của EEG trong nhận diện cảm xúc người học, mà còn đặt nền tảng cho hệ thống hỗ trợ giảng dạy thông minh, giúp cá nhân hóa trải nghiệm học tập và hỗ trợ giáo viên trong việc điều chỉnh phương pháp giảng dạy dựa trên tín hiệu não bộ thay vì chỉ dựa vào quan sát hành vi. Võ Lê Phúc Hậu, Phan Thị Quý Thịnh, Phùng Ngọc Nhân, Mai Yến Khoa, Trần Thanh Nhã, Nguyễn Viết Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4873 NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CAN THIỆP TÍCH HỢP PHÁT TRIỂN VỐN TÂM LÝ TRONG KHỞI NGHIỆP CHO SINH VIÊN VIỆT NAM https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5766 Nghiên cứu này đề xuất và kiểm định hiệu quả của mô hình can thiệp tích hợp nhằm phát triển vốn tâm lý trong khởi nghiệp cho sinh viên Việt Nam. Thiết kế bán thực nghiệm được áp dụng, kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giữa định lượng và định tính. Khách thể nghiên cứu gồm 350 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia hai biện pháp can thiệp là giáo dục nâng cao nhận thức diện rộng và khai vấn cá nhân chuyên sâu. Kết quả định lượng chỉ ra điểm số vốn tâm lý của sinh viên gia tăng có ý nghĩa thống kê ở cả bốn thành tố bao gồm niềm tin vào năng lực bản thân, sự hy vọng, sự kiên cường và sự lạc quan sau can thiệp, với kích thước ảnh hưởng từ trung bình đến rất lớn. Đồng thời, phân tích định tính từ 30 cuộc phỏng vấn sâu làm sáng tỏ cơ chế chuyển hóa tâm lý, minh chứng cho sự dịch chuyển nhận thức của sinh viên từ thái độ e ngại rủi ro sang tư duy xem khởi nghiệp là tiến trình có thể học hỏi và tái cấu trúc thái độ tích cực khi đối diện thất bại. Từ các bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất mô hình can thiệp tích hợp ba tầng bao gồm giáo dục nền tảng, hỗ trợ tăng cường và khai vấn cá nhân nhằm cung cấp giải pháp toàn diện bồi dưỡng nguồn lực tâm lý cho sinh viên. Huỳnh Văn Sơn Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5766 CAO HẢI ĐỂ – NHÀ TRÍ THỨC DẤN THÂN TIÊU BIỂU CỦA NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5828 Trong tiến trình hiện đại hóa văn hóa và tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nam Bộ là không gian tiếp xúc sớm với hệ thống giáo dục, báo chí và tri thức phương Tây. Trong bối cảnh đó, Cao Hải Để nổi lên như một trí thức tiêu biểu hoạt động trên nhiều lĩnh vực: báo chí, giáo dục, nghiên cứu xã hội và sáng tác văn học. Bài viết tập trung khảo sát cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Cao Hải Để thông qua các tác phẩm tiêu biểu như Triết học thường thức (1917), Thanh niên bửu giám (1925), Tư tưởng xã hội (1933), Kinh tế khủng hoảng (1932), Công ích toàn thơ (1924) và Ơn nước nợ nhà (1924). Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa lịch sử văn hóa, lịch sử tư tưởng và nghiên cứu báo chí, bài viết cho thấy Cao Hải Để không chỉ là một nhà báo hay nhà giáo dục mà còn là một trí thức dấn thân, góp phần quan trọng vào tiến trình hiện đại hóa tư tưởng, xây dựng nền học thuật Quốc ngữ và hình thành ý thức dân tộc ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Từ khóa: Cao Hải Để; Nam Bộ; báo chí Quốc ngữ; hiện đại hóa; tư tưởng xã hội; trí thức yêu nước Võ Nhật Minh Tâm, Võ Văn Nhơn Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5828 MỐI LIÊN HỆ GIỮA SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC VÀ SỰ GẮN KẾT NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4872 Trong bối cảnh ngành giáo dục Việt Nam đang đối mặt với tình trạng giáo viên nghỉ việc ngày càng gia tăng, việc tìm hiểu các yếu tố góp phần duy trì đội ngũ giáo viên trở nên cấp thiết. Sự hài lòng trong công việc và sự gắn kết nghề nghiệp là hai yếu tố quan trọng giúp giáo viên duy trì động lực và gắn bó với nghề. Nghiên cứu này nhằm xác định mối liên hệ giữa sự hài lòng trong công việc và sự gắn kết nghề nghiệp của giáo viên tiểu học, đồng thời xem xét sự khác biệt của mối quan hệ này theo loại hình trường học (công lập/tư thục) và thâm niên làm việc. Kết quả cho thấy mối liên hệ này ở mức độ vừa phải, ổn định, và không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm theo loại trường hay thâm niên. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của sự hài lòng trong công việc đối với việc duy trì gắn kết nghề nghiệp, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Tô Thị Hoàng Lan Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4872 TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI HỌC THEO GIÁ TRỊ CỐT LÕI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5015 Văn hóa ứng xử trong học đường là yếu tố then chốt trong việc hình thành nhân cách nghề nghiệp của người học, đặc biệt tại các trường sư phạm nơi đào tạo nguồn nhân lực giáo dục tương lai. Nghiên cứu này nhằm khảo sát mức độ tự đánh giá của người học về sự phù hợp của hành vi cá nhân với bộ quy tắc văn hóa ứng xử được xây dựng trên nền tảng giá trị cốt lõi của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh: Chất lượng - Sáng tạo - Nhân văn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp với bảng hỏi định lượng (n = 1.073) và phỏng vấn để thu thập và phân tích dữ liệu. Kết quả khảo sát cho thấy người học tự đánh giá hành vi ứng xử ở mức Tốt (M = 4,280/5), với mức độ đồng thuận cao ở các hành vi lễ phép, hợp tác, trung thực, nhưng còn do dự với các hành vi chủ động như phản biện và bảo vệ hình ảnh tổ chức. Phỏng vấn khẳng định rằng việc tự đánh giá không chỉ phản ánh nhận thức hiện tại mà còn là quá trình phản tư giá trị, có sự khác biệt đáng kể giữa các bậc đào tạo. Nghiên cứu cho thấy bộ quy tắc không chỉ được tiếp nhận như một văn bản quản lý, mà còn là công cụ chuyển hóa giá trị cốt lõi thành hành vi cụ thể của người học trong môi trường sư phạm. Lâm Thanh Minh, Phạm Văn Danh, Nguyễn Trần Minh Hải Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5015 THƠ DU KÝ TRONG “HẢI NGOẠI KỶ SỰ” CỦA THÍCH ĐẠI SÁN https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5037 “Hải ngoại kỷ sự” là một tác phẩm của nhà sư Thích Đại Sán (Quảng Đông, Trung Quốc) viết trong chuyến đi từ Trung Quốc sang Đại Việt năm 1695 theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu. Tác phẩm được viết dưới dạng kỷ sự, xen kẽ nhiều thơ và các bài văn xuôi như khải, cáo, điều trần, thư, tựa, sớ, chúc văn… Thơ trong “Hải ngoại kỷ sự” ghi lại những gian nan trên đường đi cũng như ghi chép lại những sự kiện lịch sử, cảnh vật, con người và tập tục Đàng Trong cuối thế kỷ XVII, đồng thời phản ánh những tâm tư, tình cảm của tác giả. Bài viết sử dụng phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu và phương pháp lịch sử để phân tích bộ phận thơ viết xen kẽ trong tác phẩm “Hải ngoại kỷ sự”dưới góc độ thể tài. Qua đó, bài viết khái quát những đặc điểm của thơ du ký và vai trò của thơ trong tác phẩm kỷ sự viết bằng văn xuôi này. Phạm Thị Thuý Hằng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5037 THÍCH NGHI VÀ KIỂM ĐỊNH ĐẶC TÍNH TÂM TRẮC CỦA BẢNG KIỂM KIỆT SỨC COPENHAGEN TRÊN GIÁO VIÊN MẦM NON TẠI VIỆT NAM https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5638 Kiệt sức nghề nghiệp đang trở thành vấn đề cấp thiết trong ngành giáo dục, đặc biệt là ở bậc mầm non – nơi giáo viên phải đối mặt với cường độ lao động cao và yêu cầu gắn kết cảm xúc liên tục với trẻ. Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn còn thiếu các công cụ đo lường đã được kiểm định tâm trắc đầy đủ trên nhóm khách thể này. Nghiên cứu này nhằm thích nghi và kiểm định các đặc tính tâm trắc của Bảng kiểm Kiệt sức Copenhagen (Copenhagen Burnout Inventory - CBI) trên mẫu giáo viên mầm non tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ 924 giáo viên mầm non tại ba miền của Việt Nam. Phân tích nhân tố khẳng định được thực hiện bằng phần mềm Mplus với bộ ước lượng MLR để kiểm định cấu trúc nhân tố của thang đo. Kết quả cho thấy mô hình ba nhân tố gồm kiệt sức cá nhân, kiệt sức liên quan đến công việc và kiệt sức liên quan đến đối tượng phục vụ có mức độ phù hợp chấp nhận được sau khi điều chỉnh mô hình và loại bỏ một số mục đo có tải nhân tố thấp. Các tiểu thang đo cho thấy độ tin cậy nội tại rất cao. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng về tính giá trị cấu trúc và độ tin cậy của phiên bản CBI tiếng Việt trong bối cảnh giáo dục mầm non, đồng thời đóng góp một công cụ đo lường đáng tin cậy cho các nghiên cứu về sức khỏe nghề nghiệp của giáo viên tại Việt Nam. Nguyễn Tuấn Vĩnh , Nguyễn Phước Cát Tường, Nguyễn Việt Dũng, Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5638 ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG QUY TRÌNH TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THẠC SĨ THEO TIẾP CẬN BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG BÊN TRONG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5696 Nghiên cứu đánh giá hệ thống quy trình đào tạo thạc sĩ tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM theo tiếp cận bảo đảm chất lượng bên trong (IQA). Sử dụng phương pháp khảo sát với dữ liệu từ 866 học viên và 50 cán bộ quản lý cấp khoa, giảng viên, kết quả nghiên cứu cho thấy, các quy trình đầu vào và đầu ra được chuẩn hóa và vận hành hiệu quả, trong khi các quy trình thực hiện trong quá trình đào tạo còn tồn tại một số hạn chế về theo dõi tiến độ, xử lý học vụ và phối hợp liên đơn vị. Hiệu quả hệ thống chịu ảnh hưởng đáng kể bởi hạ tầng công nghệ và cơ chế phối hợp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chất lượng của hệ thống không chỉ nằm ở thiết kế quy trình mà còn ở cách các quy trình được phối hợp và vận hành trong thực tế. Nghiên cứu cũng đề xuất các định hướng cải tiến về tối ưu hóa quy trình, chuyển đổi số và tăng cường phối hợp nội bộ. Nguyễn Thị Thu Ba, Lê Thị Thu Liễu, Bùi Trần Quỳnh Ngọc, Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Hồ Huyền Điệp Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5696 ABOUT SOME COMMON SOURCE DOMAINS IN BARACK OBAMA'S INAUGURAL SPEECH https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5833 Bài viết này nghiên cứu bài diễn văn nhậm chức của Barack Obama ngày 20 tháng 1 năm 2009, với mục đích xác định, mô tả và phân tích một cách có hệ thống một số ẩn dụ ý niệm nổi bật dựa trên các miền nguồn phổ biến. Thủ pháp MIP (Pragglejaz Group, 2007) được sử dụng làm công cụ chính để nhận diện các ẩn dụ ý niệm. Các ẩn dụ ý niệm sau đó được mô tả, phân loại và giải thích dựa trên mối quan hệ giữa tư duy, ngôn ngữ và văn hóa. Kết quả cho thấy các miền nguồn phổ biến được sử dụng trong diễn văn nhậm chức của Barack Obama bao gồm CON NGƯỜI, HÀNH TRÌNH, XÂY DỰNG, CHIẾN TRANH, THỰC VẬT và ĐỘNG VẬT, và THỜI TIẾT, từ đó làm sáng tỏ vai trò của miền nguồn trong việc chi phối các quá trình ý niệm hóa và phạm trù hóa. Kết quả của nghiên cứu này nhằm mục đích thúc đẩy nghiên cứu học thuật về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị. Nguyễn Xuân Hồng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5833 SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ QUYỀN VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG BẢN ĐỊA VIỆT NAM TRONG KHÔNG GIAN SỐ https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5387 Bài viết phân tích mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ và quyền văn hóa của cộng đồng bản địa Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Sự phát triển của công nghệ số vừa mở ra cơ hội bảo tồn, phổ biến di sản văn hóa, vừa đặt ra thách thức về xâm phạm, chiếm dụng tri thức bản địa. Nghiên cứu đề xuất khung pháp lí và chính sách nhằm bảo vệ, quản trị công bằng tài sản văn hóa bản địa, bảo đảm cân bằng giữa tiếp cận tri thức, quyền lợi cộng đồng và phát triển bền vững. Chu Thị Ngân, Lê Thị Phượng Hoàng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5387 越南“中文+职业技能”数智资源平台建设浅谈 (NGHIÊN CỨU SƠ BỘ VỀ XÂY DỰNG NỀN TẢNG TÀI NGUYÊN SỐ THÔNG MINH CHO “TIẾNG TRUNG + KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP” TẠI VIỆT NAM) https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5726 随着中越两国在经济、文化等领域的交流日益深化,特别是中国企业在越南的广泛投资(截至目前,投资项目已达4750个,覆盖19个行业),越南市场对于“精通技能、通晓中文”的复合型人才需求急剧增长。这一学习需求的激增促使越南市场上“中文+职业技能”的学习资源大幅增加。然而,截至目前,越南的“中文+职业技能”学习资源仍处于零散状态,教师和学习者难以检索并获取有效的学习资源。此外,2020年越南政府颁行的第749/QĐ-TTg号决定明确指出,亟需建设教与学的资源共享平台,以推动个体化教育的发展。因此,为满足这一市场需求,构建“中文+职业技能”数智资源平台显得尤为重要。因此,本研究通过调查学习者与教师对于数智资源平台的需求来探讨越南“中文+职业技能”数智资源平台建设的思路。 Cùng với sự giao lưu, hợp tác ngày càng sâu rộng giữa Việt Nam và Trung Quốc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, đặc biệt là sự hiện diện đầu tư ngày càng lớn của các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam (tính đến thời điểm hiện tại đã có 4.750 dự án đầu tư, bao phủ 19 ngành nghề), nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao “thông thạo kỹ năng, tinh thông tiếng Trung” tại thị trường Việt Nam gia tăng mạnh mẽ. Sự gia tăng nhu cầu học tập này đã kéo theo sự gia tăng nhu cầu đối với các nguồn tài nguyên học tập “tiếng Trung + kỹ năng nghề nghiệp” trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, các nguồn tài nguyên học tập “tiếng Trung + kỹ năng nghề nghiệp” tại Việt Nam vẫn còn ở trạng thái phân tán, rời rạc, khiến người dạy và người học gặp nhiều khó khăn trong việc tra cứu và tiếp cận các tài nguyên hiệu quả. Bên cạnh đó, Quyết định số 749/QĐ-TTg năm 2020 của Chính phủ Việt Nam đã chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng các nền tảng chia sẻ tài nguyên dạy và học nhằm thúc đẩy sự phát triển của giáo dục cá thể hóa. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu của thị trường, việc xây dựng một nền tảng tài nguyên số thông minh cho “tiếng Trung + kỹ năng nghề nghiệp” là vô cùng quan trọng. Do đó, nghiên cứu này tìm hiểu định hướng xây dựng nền tảng tài nguyên số thông minh cho “tiếng Trung + kỹ năng nghề nghiệp” tại Việt Nam thông qua khảo sát nhu cầu của người học và giáo viên đối với nền tảng tài nguyên số thông minh. Ngô Thị Huyền Trang, Vũ Nguyễn Minh Thy Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5726