Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos <p><strong>TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HCMUE J. SCI.)</strong></p><p><strong> </strong></p><p>v <strong>Thông tin chung</strong></p><p><strong>Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.)</strong> là một Tạp chí mở, được phản biện kín hai chiều và xuất bản định kì (01 kì/ tháng).</p><p>Mục đích của <strong>HCMUE J. Sci.</strong> là góp phần vào sự phát triển và phổ biến kiến thức đa ngành về khoa học, giáo dục và các lĩnh vực khác để tăng cường đối thoại giữa các học giả, các nhà nghiên cứu và các học viên. Tạp chí rất mong nhận được các bản thảo phản ánh các kết quả nghiên cứu mới và có ý nghĩa khoa học cao. Tất cả các bản thảo của bài báo gửi đến Tạp chí phải là kết quả nghiên cứu gốc, cả về mặt thực nghiệm hay lí thuyết, chưa từng được công bố. Các bản thảo gửi đến phải tuân thủ các quy định của Tạp chí và không được đồng thời đến các tạp chí khác. Bản thảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên sẽ được thẩm định bởi các chuyên gia.</p><p>v <strong>Giới thiệu về tạp chí</strong></p><p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> là một Tạp chí đa ngành được tài trợ bởi Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi mong muốn mang đến cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên, sinh viên và độc giả những thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực khoa học cũng như tạo cho họ những điều kiện thuận lợi nhất để trao đổi học thuật. Tuân thủ các chính sách truy cập mở, các tài liệu được xuất bản có thể được sao chép và phổ biến mà không cần xin phép nhưng phải đưa ra trích dẫn đầy đủ, chính xác về nguồn gốc tài liệu. <strong>HCMUE J. Sci.</strong> công bố các kết quả nghiên cứu khoa học gốc bằng một trong bốn ngôn ngữ: tiếng Việt/ tiếng Anh/ tiếng Pháp hay tiếng Trung Quốc.</p><p>v <strong>Tuyên bố về đạo đức xuất bản</strong><strong></strong></p><strong>HCMUE J. Sci.</strong> cam kết duy trì các tài liệu nghiên cứu gốc với chất lượng cao nhất. Tất cả các bản thảo được chấp nhận để xuất bản sẽ phải chịu sự kiểm duyệt nghiêm ngặt. Bất kì bản thảo nào bị nghi ngờ là đạo văn, giả mạo và tác giả không chính xác sẽ không được xuất bản. vi-VN journal@hcmue.edu.vn (Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUE J. Sci.)) khoadv@hcmue.edu.vn (Đặng Vũ Khoa) Fri, 27 Feb 2026 07:23:49 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Xây dựng thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng ứng dụng AI tạo sinh trong dạy học https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4623 Nghiên cứu này xây dựng và kiểm định thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng ứng dụng AI tạo sinh trong giáo dục của giáo viên trung học. Thang đo gồm năm yếu tố chính: Hỗ trợ từ đồng nghiệp (CS), Niềm tin theo chuẩn mực chung (NB), Quy chuẩn chủ quan (SN), Sự gắn kết với hoạt động giảng dạy (RA) và Sự sẵn sàng với AI (RE). Kết quả khảo sát với 421 giáo viên cho thấy thang đo đạt độ tin cậy cao với CS, SN và RA có mối liên hệ mạnh mẽ đến RE, trong khi NB có sự tương quan trung bình. Nghiên cứu cung cấp một công cụ đo lường hữu ích, hỗ trợ các nhà quản lý giáo dục xây dựng chính sách và chương trình đào tạo thúc đẩy chuyển đổi số. Tuy nhiên, hạn chế bao gồm phương pháp khảo sát trực tuyến và dữ liệu tự báo cáo có thể gây sai lệch. Đề xuất mở rộng phạm vi khảo sát và áp dụng thêm các phương pháp thu thập dữ liệu để tăng tính đại diện. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng mà còn mở ra hướng đi mới trong ứng dụng AI trong giáo dục, góp phần thúc đẩy sự đổi mới và phát triển bền vững giáo dục Việt Nam. Tạ Thanh Trung , Tăng Minh Dũng , Nguyễn Thị Nga , Lê Thái Bảo Thiên Trung , Hồ Quốc Thanh , Nguyễn Minh Đạt , Hoàng Thị Nguyên , Phú Lương Chí Quốc , Bùi Hoàng Diệu Bân Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4623 PHÁT HIỆN SỚM BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI QUA CHỈ SỐ ABI Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP TẠI TRUNG TÂM Y TẾ XUÂN LỘC NĂM 2019 https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5141 Nghiên cứu xác định tỷ lệ chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân – cánh tay (ABI) ở bệnh nhân tăng huyết áp, đồng thời đánh giá mối liên quan giữa chỉ số này với các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch chi dưới và một số bệnh lý kèm theo tại Trung tâm Y tế huyện Xuân Lộc năm 2019. Phương pháp hồi cứu được thực hiện trên toàn bộ bệnh nhân điều trị ngoại trú tăng huyết áp trong năm 2019. ABI được đo ở cả hai chân và phân loại thành ba mức: bình thường (1.0–1.3), cảnh báo (0.9–1.0), và bệnh lý cần điều trị (<0.9). Tỷ lệ ABI chân phải và trái trong mức bình thường lần lượt là 76% và 76,31%; mức cảnh báo là 18,46% và 16,92%; mức bệnh lý cần điều trị là 5,54% và 6,77%. Ở bệnh nhân kiểm soát huyết áp tốt, 82,35% có ABI bình thường. Trong nhóm kiểm soát lipid máu tốt, tỷ lệ ABI bình thường là 61,03%, còn ở nhóm có bệnh mạch vành là 63,23%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ABI chân phải và chân trái. Phan Quang Hải, Nguyễn Tiến Viễn, Nguyễn Thị Bé Phương, Bùi Thị Lệ Xuân Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5141 KHẢO SÁT Ý KIẾN GIÁO VIÊN VỀ LỢI ÍCH, THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5036 Việc sử dụng trò chơi trong dạy học đã được chứng minh mang lại nhiều hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, một số nghiên cứu ở Việt Nam trước đây đã chỉ ra giáo viên cấp trung học vẫn còn ít sử dụng trò chơi trong dạy học. Nghiên cứu này tiến hành khảo sát ý kiến của giáo viên toán cấp trung học cơ sở về lợi ích, thuận lợi và khó khăn khi sử dụng trò chơi trong dạy học. Với 207 ý kiến, nghiên cứu đã chỉ ra việc gợi hứng thú học tập của trò chơi được giáo viên đánh giá cao, thuận lợi lớn nhất là học sinh sẵn sàng tham gia chơi, và khó khăn lớn nhất là việc mất thời gian chuẩn bị. Kết quả của nghiên cứu giúp các nhà quản lý, các nhà giáo dục xác định được những vấn đề trọng tâm cần cải thiện để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn Toán. Phạm Văn Bản, Bùi Phương Uyên Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5036 THIẾT KẾ MỘT SỐ BỘ THỰC HÀNH SỬ DỤNG VI ĐIỀU KHIỂN ARDUINO CHO SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM CÔNG NGHỆ https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5017 Các bộ thực hành vi điều khiển được thiết kế dựa trên việc sử dụng bo mạch Arduino Uno, cảm biến và các thiết bị chấp hành phổ biến như đèn, động cơ DC, chuông, khóa, máy bơm…. Với thiết kế linh hoạt các bộ thực hành chia thành nhiều chủ đề khác nhau cho phép người học thực hiện được nhiều mạch ứng dụng với giá thành thấp. Nội dung các bộ thực hành không chỉ phù hợp với chương trình đào tạo và môn Công nghệ mà còn cung cấp nhiều linh kiện mở rộng giúp người học phát huy khả năng sáng tạo. Hình thức thiết kế hiện đại và thẩm mĩ nhằm tạo hứng thú cho người học. Các bộ thực hành có tính ứng dụng cao, hỗ trợ quá trình dạy học thiết kế và sử dụng kit vi điều khiển Arduino. Nguyễn Thanh Tú, Đặng Như Phương, Nguyễn Trương Quốc Bảo, Nguyễn Huỳnh Duy Khang Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5017 SỬ DỤNG PHẦN MỀM CANVA ĐỂ THIẾT KẾ FLASHCARDS TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “CON NGƯỜI VÀ SỨC KHỎE” MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở TIỂU HỌC https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5055 Phương tiện dạy học giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quá trình dạy học nói chung và dạy học chủ đề “Con người và sức khỏe” trong môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học nói riêng. Trong đó, flashcard với hình ảnh trực quan, sinh động không chỉ hỗ trợ học sinh tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng mà còn góp phần tạo hứng thú học tập. Canva là một phần mềm thiết kế trực tuyến tích hợp nhiều công cụ trí tuệ nhân tạo (AI), cho phép giáo viên dễ dàng tạo ra các flashcard phục vụ hoạt động dạy học. Bài viết này giới thiệu phần mềm Canva và các công cụ AI tích hợp được sử dụng trong thiết kế flashcard, phân tích vai trò của flashcard trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học, đồng thời đề xuất một quy trình thiết kế flashcard cho chủ đề “Con người và sức khỏe” kèm theo ví dụ minh họa. Quy trình này nhằm hỗ trợ giáo viên tiểu học trong việc thiết kế và ứng dụng hiệu quả flashcard, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Phan Thị Hồng The, Phạm Việt Quỳnh, Đặng Anh Thư, Trương Khánh Ly, Nguyễn Ngân Giang Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5055 TĂNG CƯỜNG NHẬN DIỆN CẢM XÚC THÔNG QUA TÍCH HỢP ĐẶC TRƯNG NGỮ CẢNH ĐA PHƯƠNG THỨC https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5044 Trong kỷ nguyên số, nhu cầu về các hệ thống thông minh có khả năng thấu cảm với cảm xúc người dùng ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, các phương pháp nhận diện cảm xúc hiện có, dù là đơn phương thức hay đa phương thức, thường chưa thể tích hợp thông tin từ nhiều nguồn một cách chặt chẽ và tận dụng ngữ cảnh một cách hiệu quả. Điều này khiến các mô hình dễ bị ảnh hưởng bởi nhiễu hoặc thông tin thiếu sót từ dữ liệu đầu vào. Để khắc phục hạn chế này, nghiên cứu này giới thiệu MCFF (Multi-Modal Contextual Feature Fusion), một kiến trúc học sâu đa phương thức được thiết kế để khai thác đồng thời thông tin hình ảnh, âm thanh và văn bản. Kết quả thực nghiệm trên bộ dữ liệu IEMOCAP đạt 82.89% Accuracy và 82.86% F1-score, cho thấy MCFF có hiệu suất cạnh trạnh mạnh mẽ so với các phương pháp tiên tiến khác. MCFF cho thấy tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong các hệ thống tương tác thông minh, từ cải thiện trải nghiệm trong giáo dục trực tuyến và trợ lý ảo cho đến hỗ trợ quan trọng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Trần Thanh Nhã, Nguyễn Quốc Hưng, Tạ Công Phi, Lý Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Quốc Trọng, Nguyễn Viết Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5044 Cấu trúc sự tình chuyển động tiếng Việt https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5347 Loại hình lưỡng phân sự tình chuyển động của Talmy (1985, 2000), phát triển bởi Slobin (2004), đã đề xuất cách tiếp cận mới đối với ngôn ngữ theo quan điểm tri nhận - loại hình. Những tương đồng và khác biệt trong các nghiên cứu này tập trung vào ngữ liệu mới liên quan đến cách thức mã hóa các thành tố ngữ nghĩa của sự tình. Sự khác biệt trên bình diện bề mặt (hình thức ngôn ngữ) giữa các ngôn ngữ dẫn đến sự phân loại khác nhau đối với sự tình chuyển động trong các ngôn ngữ. Tiếng Việt cho thấy sự đa dạng các cấu trúc diễn tả sự tình chuyển động. Với đặc điểm nổi bật của một ngôn ngữ động từ chuỗi, tiếng Việt cần được xếp vào loại hình ngôn ngữ khung đồng hiện. Lê Kính Thắng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5347 ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG ĐÀO TẠO SINH VIÊN, HỌC VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC - TRƯỜNG HỢP CÁC HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5517 Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) cùng với tiến trình số hóa giáo dục đã tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với hoạt động đào tạo giáo viên. Đối với sinh viên, học viên ngành Giáo dục Tiểu học, đặc biệt trong các học phần liên quan tới Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt, việc tiếp cận và vận dụng AI không chỉ hỗ trợ đổi mới hình thức tổ chức dạy học mà còn góp phần hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp gắn với năng lực số. Bài báo tập trung làm rõ các vấn đề lí luận về AI và đề xuất một số hình thức vận dụng AI trong tổ chức hoạt động học tập và thực hành nghề nghiệp thông qua thiết kế các sản phẩm học tập như poster, photobook, infographic, slide với sự hỗ trợ của các công cụ AI (Canva, Prepik, Prezi, Kling AI, Gamma, Mentimeter). Những đề xuất này tăng cường trải nghiệm học tập, thúc đẩy phát triển năng lực số và nâng cao khả năng vận dụng công nghệ trong dạy học, nghiên cứu môn Tiếng Việt của sinh viên và học viên cao học. Trịnh Cam Ly Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5517 THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC BÀI HỌC ÔN TẬP PHẦN ÂM VẦN MÔN TIẾNG VIỆT, LỚP 1 https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4742 Trên cơ sở lí thuyết và thực tiễn về dạy học âm vần lớp 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018, bài báo đề xuất quy trình xây dựng và chỉ dẫn cách sử dụng một website đã xây dựng nhằm hỗ trợ dạy học bài học ôn tập Âm vần, môn Tiếng Việt lớp 1. Website đã thiết kế chứa các phiếu bài tập ôn tập Âm vần môn Tiếng Việt lớp 1 cuối tuần trên nền tảng Liveworksheet dựa trên ngữ liệu của sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 – bộ sách “Chân trời sáng tạo”. Kết quả của đề tài góp phần giải quyết những khó khăn của HS lớp 1 trong giai đoạn đầu học Tiếng Việt, từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt. Nguyễn Thị Kim Cương , Nguyễn Thị Xuân Yến , Bùi Thị Hồng Nhung , Nguyễn Thị Thu Trúc , Phạm Hương Phấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4742 PHƯƠNG THỨC CHUYỂN MÃ CẤU TRÚC TỰ SỰ TỪ TRUYỆN CỔ DÂN GIAN SANG TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4789 Bài viết phân tích sự chuyển mã cấu trúc tự sự từ tác phẩm truyện cổ dân gian sang trò chơi điện tử. Đây không đơn thuần là sự dịch chuyển về mặt chất liệu mà là một phối cảnh hoàn hảo từ khâu phác thảo tổng thể khung cốt truyện đến sự cụ thể hoá tiến trình sự kiện và hành trạng nhân vật, trong đó, người chơi được đặt vào vị trí trung tâm của câu chuyện. Dựa trên lý thuyết mã tự sự, cấu trúc “Hành trình của người anh hùng” (Hero’s Journey) của Joseph Campbell và cấu trúc năm sự kiện chính của Joan Ikonomi, nghiên cứu tiến hành so sánh khung cốt truyện và kịch bản trò chơi, tập trung vào sự biến đổi trong hành trình nhân vật, phần mở đầu và kết thúc của trò chơi. Kết quả cho thấy quá trình chuyển mã này tạo ra những biến đổi đáng kể trong cấu trúc tự sự. Thông qua phân tích và so sánh, bài báo làm rõ tiềm năng ứng dụng to lớn của nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, mặt khác, khẳng định những giá trị sáng tạo của các sản phẩm trò chơi điện tử với tư cách một loại hình giải trí có doanh thu cao nhất hiện nay. Nguyễn Thụy Mai Thảo, Châu Nguyễn Ái My, Nguyễn Thùy Dung, Phùng Nhật Khánh Vy, Nguyễn Hữu Nghĩa Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4789 CON NGƯỜI BẢN NĂNG TRONG NGƯỜI TỊ NẠN CỦA NGUYỄN THANH VIỆT https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5349 Người tị nạn của Nguyễn Thanh Việt khắc họa những con người Việt Nam lưu vong mang trong mình những bản năng nguyên sơ trỗi dậy mãnh liệt bên dưới lớp vỏ văn minh. Các nhân vật từ người phụ nữ sống sót trước hải tặc, chàng thanh niên tha hương khám phá tính dục, đến người cha gốc Việt tha hương mang mặc cảm chiến tranh đều bộc lộ những con người bản năng với ham muốn sống, khát khao tình dục và cả xu hướng bạo lực tiềm ẩn. Bằng bút pháp hiện thực tâm lý tinh tế, Nguyễn Thanh Việt đã thể hiện chân thực những xung năng vô thức chi phối hành vi con người tị nạn, qua đó góp phần soi sáng bản chất con người trong hoàn cảnh lưu vong đặc thù. Bài viết triển khai phân tích các khía cạnh bản năng sinh tồn, bản năng tính dục và bạo lực/chiếm hữu trong Người tị nạn, từ đó cho thấy sự hòa quyện giữa trải nghiệm di dân và tiếng nói bản năng phổ quát của con người. Từ khóa: bản năng; tính dục; vô thức; lưu vong; Người tị nạn. Phan Nguyễn Hoài Bảo Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5349 SỰ CHUYỂN DỊCH MÔ HÌNH TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH CỦA CHU LAI https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5404 Qua trường hợp Chu Lai, bài báo tìm hiểu hai mô hình tự sự chủ đạo trong văn học chiến tranh Việt Nam: tự sự sử thi (1945-1975) với cốt truyện tuyến tính, giọng kể toàn tri và hình tượng người lính anh hùng; và tự sự phản tư (sau 1975/Đổi mới) với cấu trúc hồi cố, thời gian ký ức, giọng đa thanh và nhân vật mang thương tổn tinh thần. Hai mô hình này được xác lập không chỉ từ đặc trưng trần thuật mà còn từ sự thay đổi trong quan điểm và nhãn quan về chiến tranh qua từng giai đoạn lịch sử. Trên nền tảng lý thuyết tự sự và diễn ngôn, bài viết phân tích Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai (đối chiếu Vòng tròn bội bạc, Khúc bi tráng cuối cùng) như trường hợp đường biên, nơi hai mô hình trần thuật giao thoa. Qua bốn tham số (cốt truyện, thời gian - không gian, điểm nhìn - giọng kể, nhân vật - giá trị), nghiên cứu chỉ ra sự dịch chuyển từ ca ngợi chiến thắng sang hồi cố, chất vấn và ký ức mất mát. Kết quả nhằm góp phần khẳng định tính phản tư như một bước chuyển mô hình tự sự trong văn học chiến tranh Việt Nam hiện đại. Nguyễn Thị Hải Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5404 KHẢO SÁT CÁCH THỨC XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI VỢ TRONG SÁNG TÁC TỪ CỦA NAM TỪ NHÂN ĐỜI TỐNG https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4317 Văn học nhà Tống chịu sự định hướng của Lí học, do vậy thơ ca tập trung vào việc “tải đạo”, “quán đạo” mà bỏ đi phần tâm lí tình cảm của con người. Các nam văn nhân đời Tống đã dùng thể loại từ để giải phóng những ức chế tình cảm trong mình, vô tình tạo ra cho từ các bản sắc về “ngôn tình”, “ứng ca”, “diễm khoa”,… vô cùng lớn; từ đó khiến cho hình ảnh người mình yêu thương hiện hữu một cách dày đặc trong những sáng tác. Dựa vào các thao tác khảo sát, phân nhóm, và quan niệm thẩm mĩ thể loại (tình – cảnh giao hòa, cảnh phải làm nổi bật tình), tác giả bài viết hướng tới việc phân tích, nghiên cứu cách thức xây dựng hình tượng người vợ trong sáng tác của các nam văn nhân đời Tống thông qua hai nhóm lớn: người vợ có chồng ở quan ải (chinh phu – chinh phụ), người vợ có chồng đang ở phương xa. Từ đó mà hiểu rõ hơn suy nghĩ của các văn nhân về người vợ và tâm trạng, hành động của người vợ trong trong từ Tống cũng như trong thời kì phong kiến Tống. Dương Vĩnh Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4317 THẢO NGUYÊN TRONG SINH QUYỂN CỦA ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC (TRƯỜNG HỢP TÔ TEM SÓI (KHƯƠNG NHUNG) VÀ CHÓ NGAO TÂY TẠNG (VƯƠNG CHÍ QUÂN) https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5371 Bài viết nghiên cứu vai trò của thảo nguyên trong sinh quyển văn hóa - sinh thái của Trung Quốc thông qua phương pháp nghiên cứu phê bình sinh thái. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai tác giả đều khẳng định thảo nguyên không phải là vùng ngoại vi lạc hậu mà là phần "căn cốt" kiến tạo nên bản sắc Hoa Hạ. Tuy nhiên, hai tác phẩm thể hiện hai quan điểm đối lập: Khương Nhung đề cao “sói tính” (hoang dã, cạnh tranh) như nguồn gốc sức mạnh lịch sử, trong khi Vương Chí Quân đề cao “ngao tính” (trung thành, đạo đức) như hình mẫu lý tưởng của Nho gia. Cuối cùng, bài viết chỉ ra rằng sự thống nhất giữa “trung tâm” (văn minh) và “ngoại vi” (hoang dã) chỉ có thể đạt được thông qua sự hòa giải giữa niềm tin tôn giáo bản địa và tri thức khoa học hiện đại. Phạm Minh Khánh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5371 Đông Nam Á trong Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Nhật Bản (2007 - 2024) https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4781 Bài viết góp phần làm rõ vai trò của Đông Nam Á trong Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Nhật Bản, đồng thời phân tích chính sách đối ngoại của Nhật Bản thông qua lăng kính chủ nghĩa tân hiện thực. Khái niệm “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” lần đầu tiên được Nhật Bản giới thiệu vào năm 2007 và sau đó chính thức được công bố thành chiến lược dưới tên gọi “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (tiếng Anh: Free and Open Indo-Pacific, viết tắt: FOIP) vào năm 2016. Trong khuôn khổ chiến lược FOIP, mối quan hệ giữa Đông Nam Á và Nhật Bản đang chuyển dịch từ giai đoạn hợp tác để phát triển của chủ nghĩa tự do sang giai đoạn hợp tác phòng thủ để bảo đảm lợi ích quốc gia của chủ nghĩa tân hiện thực. Trên cơ sở đó, bài viết lập luận rằng Đông Nam Á là chìa khóa để Nhật Bản hiện thực hóa chiến lược FOIP và cân bằng với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tô Thùy Linh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4781 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VƯƠNG QUỐC KUSH (THẾ KỈ VIII TCN – THẾ KỈ I TCN) https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5117 Từ kết quả phân tích các tư liệu khảo cổ và những công trình nghiên cứu về lịch sử khu vực Nubia, bằng phương pháp lịch sử và phương pháp logic, bài viết này tập trung phân tích quá trình hình thành và phát triển của vương quốc Kush từ thế kỉ VIII TCN đến thế kỉ I TCN. Kết quả cho thấy sự hình thành và phát triển của Kush chịu ảnh hưởng bởi: (1) điều kiện tự nhiên thuận lợi và vị trí chiến lược tại lưu vực sông Nile giúp hình thành các trung tâm chính trị – kinh tế như Napata và Meroe; (2) sự tiếp biến văn hóa với Ai Cập, kết hợp cùng quá trình bản địa hóa để tạo ra bản sắc văn minh riêng biệt của Kush thể hiện qua kiến trúc, chữ viết và tín ngưỡng; (3) mối quan hệ ngoại giao và thương mại với các nền văn minh lớn như Ai Cập, La Mã và các vương quốc lân cận đã thúc đẩy Kush phát triển bền vững suốt gần một thiên niên kỉ. Nghiên cứu cũng góp phần làm rõ vai trò của Kush trong lịch sử châu Phi cổ đại và cung cấp thêm nhận thức mới về văn minh Nubia. Nguyễn Trà My Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/5117