NÓI KỀ TRONG VĂN HỌC NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI: CẢNH NGỘ VÀ SỰ KHÁNG CỰ NƠI KHÔNG GIAN RIÊNG TƯ TRONG TIẾNG ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ VÀ TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG

Nguyễn Thị Minh1,
1 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Bài viết đặt song song hai truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại, truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thúy và Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai. Bài viết lập luận rằng, thông qua“nói kề” vừa như một thủ pháp kĩ thuật, vừa như một thái độ, hai tác phẩm đã cho thấy cảnh ngộ và sự kháng cự của các nhân vật nữ đối với những quy chuẩn giới. Bằng việc phân tích nghịch lý của diễn ngôn thiên chức phụ nữ, thể hiện ở độ vênh giữa khả năng sinh đẻ và gánh nặng chăm sóc; cùng sự kháng cự của họ bằng chính không gian riêng tư và khả năng di chuyển, bài viết cho thấy những khả thể của văn chương nữ giới trong việc kéo gần khoảng cách giữa phụ nữ miền núi và phụ nữ miền xuôi.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Abu-Lughod, L. (2013). Do Muslim women need saving? Harvard University Press. https://doi.org/10.4159/9780674726338
Balsom, E. (2018, November 1). There is no such thing as documentary: An interview with Trinh T. Minh-ha. Frieze, (199). https://www.frieze.com/article/there-no-such-thing-documentary-interview-trinh-t-minh-ha
Beauvoir, S. de. (2011). The second sex (C. Borde & S. Malovany-Chevallier, Trans.). Vintage Books. (Original work published 1949)
Butler, J. (1990). Gender trouble: Feminism and the subversion of identity. Routledge.
Chen, N. N. (1992). “Speaking nearby”: A conversation with Trinh T. Minh-ha. Visual Anthropology Review, 8(1), 82–91. https://doi.org/10.1525/var.1992.8.1.82
Đỗ, B. T. (2021). Tiếng đàn môi sau bờ rào đá. Nhà xuất bản Văn học.
Minh-ha, T. T. (Director). (1982). Reassemblage [Film]. Women Make Movies.
Said, E. W. (2003). Orientalism. Penguin Books.
Trần Thùy Mai. (2009). Trăng nơi đáy giếng. Nhà xuất bản Thanh Niên.