THÀNH PHẦN LOÀI CÁ VÀ PHÂN BỐ KHÔNG GIAN Ở SÔNG PHAN, TỈNH LÂM ĐỒNG, VIỆT NAM, TRONG MÙA KHÔ NĂM 2025

Hoàng Thị Phương Phúc1,2, , Nguyễn Thị Thu Hà3, Tống Xuân Tám4
1 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam;
2 Trường THPT Tam Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
3 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh – Phân hiệu Gia Lai, Việt Nam
4 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Nghiên cứu này khảo sát thành phần loài và phân bố cá ở lưu vực sông Phan, tỉnh Lâm Đồng (trước đây thuộc tỉnh Bình Thuận) vào mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2025. Mẫu cá được thu thập tại 3 khu vực nghiên cứu: thượng lưu, trung lưu và cửa sông, kết hợp ghi nhận các yếu tố môi trường như độ mặn và độ pH. Kết quả xác định tổng số 92 loài, thuộc 77 giống, 57 họ và 24 bộ và 2 lớp. Sự xuất hiện của lớp cá mang tấm Elasmobranchii và nhiều họ cá biển trong bộ Cá Vược (Perciformes) phản ánh hệ sinh thái đặc thù vùng hạ lưu – cửa sông có sự giao thoa giữa cá nước ngọt, nước lợ và cá biển di cư. Sự phân bố loài giữa các bộ thể hiện sự không đồng đều rõ rệt, với một số bộ chiếm ưu thế về số lượng loài, trong khi nhiều bộ khác chỉ đóng góp số loài hạn chế. Bộ Perciformes (cá Vược) có số loài nhiều nhất với 18 loài (19,57%). Tiếp theo là Bộ Carangiformes (cá Khế) và Bộ Cypriniformes (cá Chép), mỗi bộ 11 loài (11,96%). Về mặt phân bố cá trong lưu vực sông, các đoạn thượng lưu và trung lưu có thành phần loài tương tự nhau: 28 loài (chiếm 30,43%), cho thấy các loài sống ở thượng lưu cũng có thể sống ở trung lưu. Vùng cửa sông có độ phong phú loài cao nhất, với 64 loài (chiếm 69,57%). Khảo sát cũng ghi nhận một số loài cá xuất hiện trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ Việt Nam (2024) và IUCN (2025), phản ánh sự đa dạng sinh học và tầm quan trọng của việc bảo tồn nguồn tài nguyên thủy sản tại khu vực này.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Dang, T. L. (2021). Integrated Agriculture–aquaculture Farming Systems in Vietnam: The Status Quo and Future Perspectives. Vietnam Journal of Agricultural Science, 4(1), 989-996. https://doi.org/10.31817/vjas.2021.4.1.09.
Food and Agriculture Organization of the United Nations. (2024). Importance for food security and livelihoods — Inland fisheries. Retrieved from https://www.fao.org/inland-fisheries/background/food-nutrition-livelihoods/en/
Gurung, T. B. (2016). Role of inland fishery and aquaculture for food and nutrition security in Nepal. Agriculture & Food Security, 5(1), 18. https://doi.org/10.1186/s40066-016-0063-7
Huynh, P., Tran, T. M. H., & Nguyen, T. H. (2024). Study on the assessment of water quality in major rivers of Binh Thuan Province and proposed preliminary solutions for water resource protection. Journal of Meteorology and Hydrology, (761), 56-69.
International Union for Conservation of Nature. (2025). The IUCN Red List of Threatened Species (Version 2025–1). Retrieved from https://www.iucnredlist.org
Ministry of Natural Resources and Environment. (2023, March 13). QCVN 08:2023/BTNMT – National technical regulation on surface water quality (Circular No. 01/2023/TT-BTNMT, effective September 12, 2023). Hanoi, Vietnam.
Ministry of Science and Technology, & Vietnam Academy of Science and Technology. (2007). Vietnam Red Data Book. Science and Technology Publishing House.
Nelson, J. S., Grande, T. C., & Wilson, M. V. H. (2016). Fishes of the world (5th ed.). John Wiley & Sons.
People’s Committee of Binh Thuan Province, Department of Planning and Investment. (2022, December). Comprehensive report: Provincial planning of Binh Thuan for the period 2021–2030, vision to 2050 (pp. 23-24).
Tong, X. T., & Nguyen, H. D. (2009). Changes in fish composition before and after Dau Tieng Lake construction. Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, 31(3), 29-40. https://doi.org/10.15625/0866-7160/v31n3.4943
Vietnam Academy of Science and Technology. (2024). Vietnam Red List – 2024 edition. Retrieved September 15, 2025, from https://vnredlist.vast.vn